View Full Version : Học Thuyết âm Dương Bát Quái Ngũ Hành



vhvd
06-08-2006, 08:29 PM
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG BÁT QUÁI NGŨ HÀNH

(Trích từ bài viết của tác giả SoLuuHuong trong Thư Viện Việt Nam)

Trời Đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa. Thái Cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương luôn luôn chuyễn hóa làm cho Vũ Trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường nói: Thái Cực thì sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Chủ ý rằng "thì sinh" ở đây không có nghĩa là tu cái "không" mà sinh ra cái "có", mà có nghĩa là đã có sẵn trong đó rồi, và có thể nhận thấy được khi phần hai (sinh) mà họat động. Thái (lớn quá, cao xa quá) Cực (là cho tận cùng, cho chấm dứt, và cũng có nghĩa là rất lạm, quá nhiều, quá lớn) là nguyên lí tạo dựng và chi phối Vũ Trụ. Lí Thái Cực lá li Nhật Nguyên Lưỡng Cực có nghĩa là một nơi (Nhật Nguyên) khi nói chung (khi bất đồng) có hai phần Âm Dương (Lưỡng Cực) khi nói riêng ra (khi họat động). Nói ngược lại thì sự họat động của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Tòan thể cuộc Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lí Thái Cực, và mọi vật đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lí Thái Cực cho riêng mình. Âm Dương là khí vô hình, có hai phần lạ khác nhau là Dương và Âm để bù đắp cho nhau mà sinh động lực.

Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triển và suy tận được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm). Tứ Tượng lại sinh Bát Quái. Bát Quái là tạm tướng chính của Âm Dương, sinh hóa ra 5 khí chất chính là Ngũ Hành. Theo Động Trong Thư thì "Khi của trời đất, hờp thì lậ mot, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành." Âm Dương là một, nhưng Âm Dương thiên biến vận hóa (Bát Trặc) để sinh Ngũ Hành, và với tính cách tương phân tương thành đã sinh hóa vạn vật, muôn lòai, tạo ra một chuỗi nhân qua liên tục không dứt. Vạn vật trong Vũ Trụ này sơ đi có được là do sự Diệu Hợp Nhi Ngung, phối hợp với nhau một cách kỳ diệu mà ngừng đóng lại của nhị ngũ (2, 5) tức Âm Dương Ngũ Hành từ Hình Nhị Thương (khi nang, khi chat vô hình) qua Hình Nhi Ha (Thế Chất, Hữu Hình). Khi biến thì Hình hoa’, ở Trời là Tượng, ở Đất là Hình. Âm Dương chuyển hóa, tiêu trưởng, thuận nghịch, đáp đối cho nhau sinh ra Ngũ Hành, tạo nên vạn vật. Thái Cực động thì sinh Dưỡng, động cực thì Tĩnh, tĩnh thì sinh Âm, tĩnh cực thì lại động, một tĩnh một động cũng làm căn bản cho nhau, đó là trở về cái gốc (Ho Vi Ky Can).

vhvd
06-08-2006, 08:31 PM
CÁC QUI LUẬT BIẾN ĐỘNG CỦA VẠN VẬT

Các hiện tượng của Vũ Trụ chỉ là trạng thái khác nhau trong vòng Sinh Tử, Tứ Sinh (tức là Thành Thịnh Suy Hủy, Thành Trụ Họai Không, Sanh Lão Bệnh Tử) của vật thế biển động. Tứ tượng Đông Phương cho rằng Vũ Trụ có một mãnh lực vô hình chu du khắp không gian và thời gian gọi là Thái Cực, tác động do hai trạng thái động tĩnh của chính mình, tức là hai khí Âm Dương, đễ biến hòa muôn lòai, tạo ra một cuộc sống động và vĩnh cữu. Đó là lí Nhật Nguyên Lưỡng Cưc, tức lí Thái Cực, Âm Dương. Khơi thũy, Vua Phục Hi đã vạch và xếp Tiên Thiên Bát Quái va 64 trung quái đễ biểu Tượng cho Âm Dương chuyển hóa, rồi tìm hiểu và sự sinh khắc chế hóa của Ngũ Hành, do tác động của Âm Dương sinh ra, biểu hiện nơi các con Số trên Hà Đồ. Đây cả khỏang Trời Đất này duy chỉ có một cái lí ấy mà thôi, lí ấy là lí tự nhiên, lí của Thái Cực. Lí ấy nằm trong Tượng, nghĩa là trong các hào quái đã được dựng nên để biểu tượng cho sự chuyển hóa của Âm Dương. Sự chuyển hóa của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Âm Dương chuyển hóa tạo ra Ngũ Hành Khí, biểu hiện bởi các con số năm trong Hà Đồ và Lạc Thu. Thái Cực là Lí tự nhiên, Hào Quái là Tượng của Âm Dương, Hà Đồ và Lạc Thu là số của Ngũ Hành. Có lí thì có Tướng, có Tướng thì có Số. Vũ trụ vạn vật chỉ có một cái lí chung và duy nhất nhưng mang nhiều Tướng Số, do đó mà mọi vật có từng nhóm số. Mọi vật đều có một Thái Cực (Các hữu Thái Cực), nghĩa là mọi vật, cũng như con người, đều là một Tiểu Vũ Trụ, Vũ Trụ có tính chất nào, tính cách nào thì mọi vật cũng có như vậy. Vua Phục Hi và các người đời sau đều đã dùng Tướng Số ấy mà tìm hiểu Vũ Trụ trong mọi quan hệ với nhân sinh. Vũ trụ và nhân sinh có mới liên hệ nhat quan, chỉ khác nhau ở chỗ cao thấp, thanh trọc, lớn nhỏ mà thôi. Đo là Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, đó là Thiên Nhân tướng dữ và tướng hợp. Lệ Trời sao thì lệ người vậy, việc trời sao thì việc người vậy.

Vạn vật đều biến động đổi dời tuần theo các qui luật như luật Biến Hóa, luật Tương Sinh Tương Khắc (Tướng Phần tướng Thanh), luật Tiểu Trường, luật Tương Ứng Tương Cầu, luât Tích Tiệm, luật Phần Phúc, luật Biến Dịch.

Luật Biến Hóa nghĩa là biến động mãi mãi, chữ lưu khắp chốn, lên xuống không chung, luân phiên thay đổi nhau: cung mềm, nóng lạnh, sinh tử… cho nên không thể lấy cái gì làm chủ yếu điển hình được. Chết (tử) chi là Biến và Hóa, chết mà không mất (Tử nhi bất Vong). Bien la do Cung: Cung tac Bien, Bien tac Thong, Thong tac Cuu, nghĩa là có Cung thì mới có Biến, có Biến mới có Thông, có Thông mới có lâu bền. Một dong, một mo gọi là Bien. Qua rồi lại, lại rồi qua, và qua lại không cùng gọi là Thông.

Luật Tương Ứng Tương Cầu (Giao Cảm) nghĩa là hai Khí Âm Dương có giao cảm với nhau thì vạn vật mọi hỏa sinh, vạn vật sinh rồi lại tiếp tục sinh mai đưa đến cuộc biển đời trở thành vô tận. Âm Dương có hòa xuống là cái trạng thái bình, Âm Dương xung khắc là cái trang bĩ lọan. Vạn vật trong Vũ Trụ bao giờ cũng tìm ban Đồng Thành để tương ứng, Dòng Khí để tương cầu. Âm Dương tìm lẫn nhau, hoặc Âm cung tìm Âm, Dương cung tìm Dương nhưng phải là Dong Vong hay Dong Do, nghĩa là Nội Ngọai tương ứng và tùy thuộc vào Thời. Do đó trong một quẻ thì chỉ có hào Duong và hào Âm mới tương ứng, còn nếu toàn Âm hay tòan Dương thì có tượng sinh cũng không sinh được, có tượng khác cũng không khắc được. Bởi vậy Âm Thủy mới sinh Dương Mộc, Dương Mộc mói sinh Âm Hỏa. Về tương khắc cũng theo lẽ ấy (thì mới có sự họa sinh- TMT). (Chú ý để có sự họa sinh thì cần phải khắc âm dương và ngũ hành phải tương sinh hoặc tương khắc. Tương khắc không đưa đến họa sinh mà đưa đến hủy diệt thì đòi hỏi phải cung Âm Dương và ngủ hành tương khắc, ví dụ Dương Kim thì khắc Dương Mộc (ví như kim khí cứng rắn mà gặp cây cứng rắn thì mọi khắc mạnh, mới đưa đến sự hủy diệt), còn Dương Kim tuy co khắc Âm Mộc nhưng không mạnh được, trái lại lại đưa đến sự họa sinh)

Luật Tích Tiêm: Tích có nghĩa là chất chua, tích lũy từ lâu dài. Biến và Hóa đều có nghĩa là đổi rồi, nhưng Biến thì đổi từ từ, khó nhận thấy, còn gọi là Tiêm Biến, Họa xảy ra ngay khi cuộc chuyển biến đã hoàn tất, gọi là Đột Biến

Luật Phần Phúc: trở lại nơi khởi điễm, trở về cái gốc củ. Sự tiến triễn của vạn vật không đi luôn mà sẽ trở lại. Vật cung tác Phần, nghĩa là khi cùng cục thì trái nghịch trở về cái gốc, cái trước. Nếu không đi thì sẽ không trở lại, đã có đi thì sẽ có lại (Vo^ Va~ng bat Phuc).

Lu ật Bất Dịch (Bất Di Bất Dịch): sự biến hóa ở vạn vật diễn biến trong vòng trật tự, theo một qui luật nhất định, không thay đổi, thuờng hằng. Tất cả mọi vật đều rất động, nhưng nhớ qui luật này chỉ phối mà sự động ấy không bị rối lọan, không đổi khác. Tất cả sự vật đều cũng về một nguồn (gọi là Thái Cực), nhưng mọi vật theo con đường riêng của mình, chung về nhà mà đi khắc dương (Dong Qui nhi Thu` Do^`). Luật thuờng hằng do chi phối tất cả mọi cuộc biến hóa trong trời đất, điều hòa mọi trạng thái động tĩnh, không cho sự gì đi đến thái quá hay bất cập, thiếu thì nợ bù vào, thua thì nợ bớt đi, đưa đến quân bình

vhvd
06-08-2006, 08:32 PM
TƯỢNG CỦA ÂM DƯƠNG

Dịch lý quan niệm Âm Dương là khí và Ngũ Hành là thể chất

Âm Dương tượng trưng cho hai khí thiên nhiên trong vũ trụ. Nguyên lý của vũ trụ thì vô hình, không thể mô tả cụ thể được, mà dù cho có mô tả được đi chăng nữa thì cũng không bao giờ mô tả hêt được. Muốn mô tả nguyên lý của vũ trụ đó ta phải mượn hữu hình để mô tả cho chân lý vô hình đó, gọi là mượn Tướng để mô tả Hình

Khí Dương tượng trưng bời nóng, cứng, dai, nhanh, khỏe, Nam, ban ngày, trời, số lẻ, phát triển, trẻ, Mặt Trời, mùa Xuân, Hạ, hướng Đông, hướng Nam, phía trên, phía ngòai, lửa, sáng, năng động, tích cực, cương quyết

Khí Âm tượng trưng bởi lạnh, mềm, ngắn, chậm, yếu, Nữ, ban đêm, đất, số chẳn, suy thoái, già, Mặt Trăng, ban đêm, Thụ, Động, hướng Tây, hướng Bắc, phía dưới, phía trong, nước, trầm tỉnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, nhu nhược, tiêu cực.

Trong con người, Dương là mé ngòai, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí...Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dươi, ngủ tạng, huyết...

Âm Dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà là thuộc tính nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích sự biến hóa và phát triển của sự vật. Người ta dùng Thái Cực Đồ để tượng trưng cho hai khí Âm Dương năm trong Thái Cực. Người Trung Quốc khi vẻ hình thì Hướng Bắc bên dưới, Nam bên Trên, Đông bên Phải và Tây bên Trái của hình bởi vì Trung Quốc ở Bắc Bán Cầu nên người ta ngồi ơ Phía Bắc mà nhìn lên phía Nam, và theo đó mà đặt phương vị. Như vây trước mặt là Phương Nam, tay trái Phương Đông, bên phải Phương Tây. Trên Thái Cực Đồ thì phần màu trắng là Khí Dương nằm ở Phương Đông nơi Mặt Trời mọc, phần màu đen thì là Khí Âm nằm ở Phương Tây. Trong phần Dương có một chấm đen tượng trưng cho Âm Căn (mầm Âm), trong phần Âm có một chấm trắng tượng trưng cho Dương Căn (mầm Dương).

Điều này thể hiện Dương Trung hữu Âm căn, Âm Trung hữu Dương căn, khí Dương cực thí mầm Âm sẻ sinh ra và khì Âm cực thì mầm Dương sẻ sinh ra (Dương cực thì Âm sinh, Âm cực thỉ Dương sinh hay nói khác đi cực Dương sinh Âm và cực Âm sinh Dương, vật Cưc tắc Biến) và nhấn mạnh ý nghĩa không bao giờ có trường hợp Cô Âm hay Cô Dương bởi vì trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Khí Dương nhiều hơn Âm thì gọi là Dương, khí Âm nhiều hơn Dương thì gọi là Âm. Âm Dương vận động chuyển hóa theo qui luật Dương Trưởng thì Âm Tiêu, Âm Trương thỉ Dương Tiêu, Dương Tiêu thì Âm Trưởng, Âm Tiêu thì Dương Trưởng. Dương di ua Âm va Dương đều theo chiều thuận, từ trái qua phải, từ Động sang Tây. Dương sinh ra ở phía Bắc, nóng và nhẹ nên đi lên về Phương Đông. Dương lớn lên ở Phương Đông, cực thịnh ở phía Nam (huớng Nam, giờ Ngọ thì nóng nhất nên Dương cực. Dương cực thì Âm sinh nên Âm sinh ở Ngọ, phía Nam) và tiêu mất ở phía Tây. Âm sinh ở Phương Nam, lạnh và nặng nên đi xuống Phương Tây. Âm lớn lên ở Phương Tây, cực thịnh ở Phương Bắc, giờ Tí thì lạnh nhất nên Âm cực, Âm cực thì Dương sinh nên Dương sinh tại Tí và tiêu mất ở Phương Đông. Khí Dương tiêu mất ở phía Tây thì Âm lớn lên, khí Âm tiêu mất ở phía Đông thì Dương lớn lên. Với bản chất như vậy, Âm Dương chuyển hóa theo qui luật Dương Thăng Âm Giáng và theo qui luật có thứ tự là Doanh (tràn đầy) Hư (hao hụt) Tiêu (mòn dần) Trưởng hay Túc (no ra, sinh ra). Khí Dương Doanh thì Âm Tiêu, Dương Trưởng thì Âm Hư và ngược lại để đáp đối cho nhau sinh hóa luân chuyển không ngừng. Dương có Tiêu thì nhờ cái mầm Dương ở trong Âm mà lại Trưởng, Âm có bị Tiêu thì nhờ cái mầm Âm trong Dương mà Âm lại Trưởng. Có người còn sử dụng qui luật theo thứ tự là Thành (sinh ra) Thịnh (cực độ) Suy Hủy (mất đi) để diển tả sự chuyển hóa của Âm Dương. Khí Dương Thành thì Âm Suy, Dương Thịnh thì Âm Hủy, Dương Suy thì Âm Thành, Dương Hủy thì Âm Thịnh. Tương tự như vậy đối với khí Âm: khí Âm Thịnh thì Dương Suy, khí Dương Thịnh thì Âm Hủy…

vhvd
06-08-2006, 08:34 PM
TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Tiên Thiên Bát Quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lí hay Lẻ Trời.

Vì lúc đó chưa có chử viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để điển tả.

Sử dụng vạch liên tục, vạch liên, tục vạch Lẻ, gọi là Cơ để tượng trưng cho phần Dương

Sự dụng vạch đứt đọan, tức vạch Chấn gọi là Ngẩu để tượng trưng cho phần Âm

Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng hai vạch Dương và Âm gọi là Dương Nghi và Âm Nghi

TỨ TƯỢNG

Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Tòan Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là dà lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm

Như vậy ta có Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm trung hữu Dương Căn, Dương trung hữu Âm Căn, nghĩa là trong Âm có mầm Dương, trong Dương có mầm Âm. Dương sinh ở Dưới thành ra Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở Dưới làm chủ. Dương Trưởng ở Trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là Dương đả toàn thịnh. Âm sinh ở Trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở Dưới làm chủ. Âm trưởng ở Dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã tòan thịnh.

vhvd
06-08-2006, 08:38 PM
TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Bát Quái là tám Quẻ, mổi quẻ gồm có ba vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được gọi là Qủe Độn hay Độn Quái, dùng để diển tả 8 hiện tượng chính của họat động Âm Dương trong Vũ Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực hiện theo một thứ tự hoàn tòan theo tự nhiên: Dương trước, Âm sau, tay Măt trước, tay Trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau:

Quẻ Càn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Dương thành tòan Dương gọi là qủe Càn (trơi, thiên. Càn vi Thiên). Quẻ này thì Dương đả Thịnh, và Âm đã hủy.

Quẻ Đoài: đặt một vạch Âm lên trên Thái Dương ta có qủe Đoài (đầm ao. Đoài vi Trạch). Quẻ này thì Dương đả lớn và Âm sắp tàn

Quẻ Ly: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Ly (lửa, hơi nóng. Ly vi Hỏa). Quẻ này thì Dương đã lớn và Âm sắp tan

Quẻ Chấn: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Chấn (sấm sét, Chấn vi Lôi). Quẻ này thì Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy

Quẻ Khôn: đặt một vạch Âm lên trên Thái Âm thành tòan Âm gọi là quẻ Khôn (Đất, Địa. Khôn vi Địa). Quẻ này thì Âm đã thịnh và Dương đa hủy

Quẻ Cấn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Âm ta có quẻ Cấn (núi non. Can vi Sơn). Qủe này thì Âm đã lớn và Dương sắp tàn.

Quẻ Khảm: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Khảm (nước, chất lỏng. Khảm vi Thủy). Quẻ này thì Âm đã lớn và Dương sắp tan.

Quẻ Tốn: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Tốn (gió. Tốn vi Phong). Quẻ này thì Âm mới sinh và Dương bắt đầu suy

Trong Bát Quái, có bốn quẻ bất dịch, nghĩa là không doi du đảo lộn, lật lên lật xuống là Càn Khôn Ly Khảm. Bốn qủe này là bốn qủe chính (vì Trời, Đất, Lửa, Nước là bốn yếu tố chính) được đạt vào bốn Phương chính, ở giữa hai trục chính Nam Bắc và Đông Tây: Phía Đông (tay Trái) là hướng Mặt Trời mọc nên thuộc Dương, gồm có Đông Bắc và Đông Nam. Phía Tây (tay Phải) là hướng mặt trởi lặn nên thuộc Âm, gồm có Tây Bắc và Tây Nam.

Càn ở Phương Nam vì Càn là tòan Dương nên nóng, Phương Nam là lúc giữa trưa nên nóng nhất

Khôn ở Phương Bắc vì Khôn là Đất, toàn Âm nên lạnh, phía Bắc lúc gần nửa đêm thì rất lạnh

Ly ở Phương Đông vì Ly là Lửa, thuộc Dương nên âm ấp, Phương Đông là nơi mặt trời mới mọc có hơi ấm

Khảm ở Phương Tây vì Khãm là nước thuộc Âm nên mát, ở Phương Tây nơi mặt trởi lặn thì mát. Các nguồn nước cũng từ phương Đông mà ra

Bốn qủe còn lại là bốn qủe phụ, là những hiện tượng chính ở trên Trời và dưới Đất, được đặt ở bốn góc

Chấn ở Phương Đông Bắc

Cấn ở Phương Tây Bắc

Đòai ở Phương Đông Nam

Tốn ở Phương Tây Nam

Tiên Thiên Bát Quái chỉ vẻ lẻ Trời nên lấy Âm Dương làm trọng, do đó Càn Khôn (Trời Đất) ở trục chính Nam Bắc và Ly Khảm (Lửa, Nước) là hai nhân tố chính ở trục Đông Tây. Trục chính Nam Bắc này tạo lực cho trục ngang Đong Tây xoay vần, gây sức sống cho Vũ Trụ mà yếu tố chính của sức sống không gì ngoài Lửa và Nước nên Ly Khãm đất ở Đông Tây.

Trong Tiên Thiên thì các quẻ đối xứng với nhau: Càn với Khôn (Cha đoi xung vơi Mẹ), Chấn với Tốn (Trưởng Nam với Trưởng Nữ), Ly với Khảm (trai thứ vơi gái thứ), Cấn vơi Đòai (trai út với gái út)

vhvd
06-08-2006, 08:40 PM
SƯ VẬN ĐỘNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Phần Dương gồm có Càn 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, từ Cha xuống Con là Dương thuận. Phần Âm là Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, từ Con lên Mẹ là Âm nghịch

Nói chung Âm Dương thì Dương từ Bắc đi lên, Dương thăng. Âm từ trên Nam đi xuống, Âm giáng. Trong Tiên Thiên thì Cha sinh gái (Càn sinh Âm quái) và Mẹ sinh trái (Khôn sinh Dương quái) đó là chỉ về cái lý tự nhiên Dương sinh Âm, Âm sinh Dương.

Chấn với một hào Dương làm chủ là Nhất Dương Sinh ỏ Phương Bắc đi lên và lớn dần ở Ly. Đoài đã có hai vạch Dương và tới Càn ở phương Nam bên trên đã có đủ ba vạch Dương (toàn Dương). Như vậy Dương đi trong phần Dương mà đi thuần từ trái qua phải, từ dưới Bắc đi lên trên (Dương Thăng).

Dương từ Cấn Khảm (1 vạch) qua Tốn (hai vạch) về Càn (3 vạch) nên Dương đi trong phần Âm mà đi nghịch từ phải qua trái. Đi nghịch ở đây là đi rút về.

Tốn với một vạch Âm ở dưới làm chủ là Nhất Âm Sinh đi xuống Khảm. Cấn đã có hai vạch Âm và tới Khôn ở dưới Bắc đã có đủ 3 vạch Âm (toan Âm ). Như vậy Âm đi trong phần Âm ma đi thuận từ trái qua phải, từ Nam đi xuống (Âm Giáng).

Âm đi từ Đoài Ly (1 vạch) qua Chấn (hai vạch) về Khôn (3 vạch). Âm đi trong phần Dương mà đi nghịch từ phải qua trái

bên cạnh Thái Dương đã có 1 Âm xuất hiện ở Tốn, do Âm Càn ở Đoài. Canh Thái Âm đã có 1 Dương xuất hiện ở Chấn, do Dương Càn ở Ca^’n. Sự phối trí các quẻ cho ta thấy Sinh rồi Trưởng, Trưởng quá thì Tiêu, cái này tan thì cái khác lại sinh ra vì đã có mầm sẳn. Vòng Tiêu Trưởng xoay vần không đứt, tạo ra động lực làm cho vạn vật biến hóa không cùng.

vhvd
06-08-2006, 08:47 PM
SÁU MƯƠI BỐN QUẺ KÉP (TRÙNG QUÁI) của TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Trùng quái là quẻ kép gồm sáu vạch (còn gọi là 6 Hào), do hai Quẻ Đơn xếp chồng lên nhau. đơn quái ở trên gọi là Ngọai quái hay Thượng quái. đơn quái ở dưới gọi là nội quái hay Hạ quái. Khi viết thì viết quái dưới trươc, quái trên sau. Tên gọi được căn cứ vào tên hai đơn quái, dọc theo thứ tự từ trên xuống dưới. Trung quái là tượng chỉ về sự chuyển hóa của Âm Dương nên gọi là quái Tượng, và mỗi Hào còn được gọi là Hào Tượng.
Trung quái do Quẻ Càn sinh ra: đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Càn

Trung quái do Quẻ Đoài sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Đoài

Trung quái do Quẻ Li sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Li

Trung quái do Quẻ Chấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Chấn

Trung quái do Quẻ Tốn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Tốn

Trung quái do Quẻ Khảm sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Khảm

Trung quái do Quẻ Cấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Cấn

Trung quái do Quẻ Khôn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Khôn

Trong sáu mươi bốn quẻ thì có tam trung quái bát dịch, còn lại 58 quẻ, gồm 28 cặp, là điễn dao dịch, nghĩa là khi lật ngược thì quẻ này thành Quẻ kia

Trong 64 Trung quái thì có 12 Trung quái chính biểu thị cho qui luật Doanh Hư Tiêu Trưởng, Thành Thịnh Suy Huy, Dương Thăng Âm Giáng, Tiêu Trưởng, thuận nghịch, Tiến Thóai trong sự chuyển hóa của Âm Dương. Mười Hai Quẻ này được đặt trong Thiên Bản, hòa hợp với 12 năm. 12 tháng, 12 giờ, 12 Địa Chi, và bốn phương Tám Huớng, tứ Thời (Xuân Hạ Thu Đông), Bát Tiết:

Quẻ Phục (Đia Lôi Phục) ở Tí, một vạch Dương ở dưới (Nhất Dương Sinh). Phục có nghĩa là trở lại, là Dương đã trở lại. đất ở phương Bắc rất lạnh, giờ Tí, tháng 11, tiết Đông Chí giữa Mùa Đông.

Quẻ Lam (Địa Trạch Lam) ở Sửu, hai vạch Dương ở dưới. làm có nghĩa là đã tới, ra mặt, Dương đã đủ góp mặt rồi, đó là Dương Tiến Âm Thoái, Dương Thạnh Âm Suy.

Quẻ Thái (Đia Thiên Thái) ở Dần, ba vạch Dương ở dưới và ba vạch Âm ở trên, Dương thì nhẹ lại ở dưới nên bọc lên trên, Âm thì nặng ở trên hạ xuống dưới nên Âm Dương tiếp xúc, Âm Dương quân bình. đất ở giờ Dần lúc mặt trời đang lên, tháng 1, đầu mùa Xuân

Quẻ Đại Tráng (Lôi Thiên Đại Tráng) ở Mão, bốn vạch Dương ở dưới. Đại Trang là lớn mạnh, Dương lớn mạnh hơn Âm . đặt ở phương Đông, tháng 2, ứng với tiết Xuân phần, giữa mùa Xuân.

Quẻ Quái (Trach Thiên quái) ở Thìn, năm vạch Dương ở dưới. quái là quả quyết, dứt bỏ, Dương đã quyết dứt bỏ một Âm nằm một mình ở trên.

Quẻ Càn (Càn Vi Thiện) ở Tỵ, sáu vạch Dương, Toàn Dương, phương Nam, tháng 4, dầu Mùa Hạ

Quẻ Cấu (Thiên Phong Cấu) ở Ngọ, một vạch Âm ở dưới (Nhất Âm Sinh). Câu có nghĩa là gặp gỡ. Âm đã tới gặp Dương. đặt ở phương Nam, ứng với tiết Hạ Chí

Quẻ Độn (Thiên Sơn Độn) ở Mùi, hai vạch Âm ở dưới. đơn là lấn trọn, Dương đã lấn trọn bớt rồi

Quẻ Bỉ (Thiện Địa Bỉ) ở Thân, 3 vạch Âm ở dưới và 3 vạch Dương ở trên, tuy Âm Dương quân bình nhưng Dương ở trên cứ bốc lên, Âm ở dưới lại hạ xuống nên Âm Dương không gặp nhau nên bế tắc. Bỉ là bế tắc.

Quẻ Quán (Địa Phong Quán) ở Dậu, bốn vạch Âm ở dưới. Quan là xem xét, Dương phải xem xét hoàn cảnh không hay của mình mà lo liệu. đặt ở phương Tây, ứng với tiết Thu phân

Quẻ Bác (Sơn Địa Bác) ở Tuất, năm vạch Âm ở dưới, một vạch Dương cheo leo ở trên. Bắc là rơi rụng, Dương nằm ở thế cheo leo sắp sửa rơi rụng hết rồi

Quẻ Khôn (Khôn Vi Địa) ở Hợi, sáu vạch Âm , toàn Âm , Âm khí cục đồ. đặt vào tháng 10, đầu mùa Đông, tiết trời trở sang lạnh giá

Trên Thiên Ban, các Quẻ đối nhau qua trục Âm Dương thì tính chất cũng đối nhau như Càn và Khôn, Phục và Câu, Thái và Bỉ. Tốt nhất là Quẻ Thái vì Âm Dương quân bình và vào lúc sớm mai. Xấu nhất là Quẻ Bạc vì Dương bị rơi rụng và vào lúc đêm tối. từ Quẻ Phục đến Quẻ Càn thì Dương Trưởng Âm Tiêu. từ Quẻ Câu đến Quẻ Khôn thì Âm Trưởng Dương Tiêu. Âm Dương Tiêu Trưởng, Tiến Thoái nhưng luôn luôn trở về thế quân bính tại Quẻ Thái và Bỉ. Hai quẻ này nằm trên trục Đan Thần là trục đẹp nhất, là Dương đi của Mộc Tinh, tức Thái Tuế.Nhu vậy trong Tiên Thiên Bát Quái thì hào quái là tượng của Âm Dương

vhvd
06-08-2006, 09:24 PM
HÀ ĐỒ

Hà Đồ là một bảng về 10 số đếm từ một đến 10, được biểu diển bằng các chấm đen và trắng, xắp sếp thành hai vòng trong (nội) và ngoài (ngoại) theo đúng bốn phương chính là Nam (ở trên), Bắc (ở dưới), Đông (bên trái), Tây (bên phải). các con số trên Hà Đồ chỉ về phương vị của ngũ hành Khí do Âm Dương ở Bát Quái chuyển ra, đây là số chỉ về cái Khí ngũ hành. như vậy Thái Cực thuộc về Lí (Lẽ), Âm Dương thuộc về tượng (Hình) và ngũ hành thuộc về Số.

Mười Số đếm trên được chia thành hai loại:

Số Dương (Số Cơ) là Số lẻ, còn gọi là Số Trời (Thiện), được ghi bằng các vòng tròn trắng, bao gồm 1, 3, 5, 7, 9. Tổng Số Dương là 25

Số Âm (Số Ngầu) là Số lẻ, còn gọi là Số Đất (Địa), được ghi bằng các vòng tròn màu đen, bao gồm 2, 4, 6, 8, 10. Tổng Số Âm là 30. vì âm lớn hơn Dương (30/25) nên ta nói Âm Dương chủ không nói Dương Âm

Mười Số trên lại được chia thành hai thành phần là Số Sinh (1, 2, 3, 4, 5) và Số Thành (6, 7, 8, 9, 10). Số 5 là Số cuối của Số Sinh, là Cực của Vô (Am Dương), Số 10 là Số cuối của Số Thành là Cực của Hưu (Ngũ hành) được đặt ở giữa.

Số Sinh được định vị trí trên không gian bằng cách xấp xếp cho:

Số 1 ở hướng Bắc

Số 2 ở hướng Nam

Số 3 hướng Đông

Số 4 hướng Tây

Số 5 ở Trung Ương

hình thành vòng trong của Hà Đồ

Với sự sắp xếp này ta nhận thấy trục Bắc Nam tương ứng với chuổi sao Bắc Đẩu nên Số 1 ở hướng Bắc thì Số 2 phải ở hướng Nam. trục Đông Tây là hướng đi của Mặt Trời từ đồng sang Tây nên Số 3 phải ở hướng Đông, và Số 4 ở hướng Tây. như vậy thì sự sắp xếp các Số Sinh theo phương hướng hình thành một hệ trục tọa độ trong không gian mà góc tọa độ ở chinh giữa với trục hoành là trục Đông Tây đi từ phải qua trái và trục tung là Bắc Nam hướng từ trên xuống dưới

Số Thành được sắp xếp ở vòng ngoai bằng cách cộng Số Trung Ương (Số 5) với các Số Sinh, và cộng với chính nó thành Số 10 để ở chính giữa.

Với sự xắp xếp trên thì Số 1 (Âm) ở trên, Số 2 (Dương) ở dưới nên Hà Đồ được xoay 180 độ để cho Số 2 ở trên, Số 1 ở dưới, Số 3 bên trái, Số 4 bên mặt cho phù hợp với qui luật vận động của tạo hóa là cái trong nhẹ (Dương) bay lên thành Trời, cái đục nặng (Âm) lắng xuống thành Đất (qui luật Dương Thăng, Âm Giáng).

Số 5, Số cuối của Số Sinh và Số 10, Số cuối của Số Thành là Số của Trời Đất, là "Thể" thì đặt ở chính giữa, các Số còn lại là "Dụng" thì họat động ở ngòai. Số của Trời Đất (5 và 10) khi cộng lại thì bằng 15, bằng tổng Số của các Số Sinh nên Trời Đất sinh ra vạn vật. ở vòng ngoài, tổng số của các Số Dương bằng tổng số của các Số Âm và bằng 20, nghĩa là Âm Dương quân bình

Năm hành chính cũng được định vị cùng với năm cấp Số Sinh và Thành trên Hà Đồ như sau:

Số 1 (Trời) sinh hành Thủy, Số 6 (Đất) làm thành hành Thủy

Số 2 (Đất) sinh hành Hỏa, Số 7 (Trời) làm thành hành Hỏa

Số 3 (Trời) sinh hành Mộc, Số 8 (Đất) làm thành hành Mộc

Số 4 (Đất) sinh hành Kim, Số 9 (Trời) làm thành hành Kim

Số 5 (Trời) sinh hành Thổ, Số 10 (Đất) làm thành hành Thổ

Như vậy mới hành đều được sinh ra và hình thành bởi sự kết hơp giữa Thiên và Địa và trong Hà Đồ ta có:

Thủy (Số 1, 6) ở phương Bắc (bởi vì phương Bắc thì nhiều mưa và lạnh thuộc Thủy)

Hỏa (Số 2, 7) ở phương Nam (bởi vì phương Nam là nơi nhiều nắng, nắng thuộc Hỏa. có nước rồi phải có hơi nóng thì cuộc sống mới hình thành)

Mộc (Số 3, 8) ở phương đông (bởi vì phương đông là nơi Mặt Trời mọc và ấm áp, cây cối xanh tươi, thuộc Mộc)

Kim (Số 4, 9) ở phương Tây (bởi vì phương Tây là nơi Mặt Trời lặn và mát mẻ, Kim Khí thì mát mẻ, thuộc Kim)

Thổ (Số 5, 10) ở Trung ương (bởi vì ở giữa là Đất, đất nuôi dưỡng và thâu tàng các hành khác, động vật chết thì về Đất)

Ở phương Bắc và Đông thì Dương ở trong (Nội), Âm ở ngoài (Ngoại). ở phương Nam và Tây thì Dương ở ngoài, Âm ở trong. ở Trung ương thì Dương ở trong (Số 5) Âm ở ngoài (Số 10). sự chuyển hóa của Âm Dương trong Hà Đồ cũng giống như sự chuyển hóa của Âm Dương trong Bát Quái. Dương (Số 1) sinh ở phía dưới, nằm ở trong, phía Bắc, rồi đi thuận qua trái phía đông (Số 3) rồi ra ngoài (Số 7, 9) và tan dần ở Tây Bắc. các hào Dương của Bát Quái cũng bắt đầu xuất hiện ở phía Bắc, nằm trong, tức ở dưới (Quẻ Chấn), đi thuận lên về phía trái, và lớn mạnh lên ở phía Nam (Quẻ Càn) rồi nằm ở ngoài tức hào trên (Quẻ Tốn) rồi tan dần ở Tây Bắc. Âm (Số 2) sinh ở bên trên, nằm ở trong, phía Nam rồi đi nghịch xuống qua phải, phía Tây (Số 4) rồi choáng ra ngoài (Số 6, 8) và tan dần ở phía Đông Nam. các hào Âm của Bát Quái cũng bắt đầu ở phía Nam (Quẻ Tốn) nằm trong, tức ở dưới, đi ngược xuống phía phải và lớn mạnh lên ở dưới phía Bắc (Quẻ Khôn) rồi nằm ở ngoài, tức hào trên (Quẻ Chấn) và tan dần ở Đông Nam. Cả hai khi mới sinh và còn non yếu thì đi ở phía trong (1, 2, 3, 4, 5), lúc lớn mạnh thì đi ra ngoài để hoạt động (6, 7, 8, 9, 10) nên gọi là nơi hướng Tinh, Ngọai hướng Đông, phù hợp với qui luật Doanh Hư Tiêu Tức.

Ở phương đông thì Dương ở Trong, Âm ở Ngoài, Dương làm chủ nên khí hậu ấm áp (mùa Xuân). ở phương Tây thì Âm ở trong, Dương ở ngoài, Âm làm chủ nên khí hậu mát mẻ (mùa Thu)

Ở phương đông thì Dương chủ (trong) Âm Khách (ngoại), Dương Trầm (dưới) Âm Phù (trên) nên thông thuận, tượng trưng cho Quẻ Thái ở hướng Đông Bắc. ở phương Tây thì Âm chủ (trong) và Dương Khách (ngoại), Âm Trầm (dưới) Dương phù (trên) nên bế tắc, tượng trưng cho Quẻ Bỉ hướng Tây Nam

Số 1, 2, 3, 4 theo thứ tự thì tương ứng với từ Tượng: Thiếu Dương (Dương mới sinh), Thiếu Âm (Âm mới sinh), Thái Dương (Dương lớn), Thái Âm (Âm lớn). Số 5 thì tương ứng với Âm Trung Hữu Dương Cân (vì 1 + 4 = 5 hay Thiếu Dương + Thái Âm ) hoặc Dương Trung Hữu Âm Cân (vì 2 + 3 = 5 hay Thiếu Âm + Thái Dương). Do do Số 5 được coi là Số Thái Cực, của Trời Đất, chi về phần Dương, bao gồm hết từ Tượng, hết các Số sinh 1, 2, 3, 4. Số 5 là Số rất quan trọng vì Số này kết hợp với các Số Sinh khác (1, 2, 3, 4) mà bao trùm chuyển tiếp các Số Thành (6, 7, 8, 9) ở vòng ngoài (ví dụ 6 do 1 + 5, 7 do 2 + 5), không có số 5 ở giữa thì không có cái gì trong Vũ Trụ này cả. Số Thành 6, 7, 8, 9, 10 không những là số do số 5 chuyển tiếp mà ra mà cũng lại là do các số sinh giao hợp mà thành (ví dụ Số 6 do 1 + 5, 2 + 4, 3 + 3, 1 + 2 + 3).

Số 6, 7, 8, 9 cũng có từ Tượng, theo thứ tự tương ứng với Lão Âm (Âm già), Suy Dương, Suy Âm , Lão Dương (Dương Già). Số 10 là số Thái Cực, của Trời Đất, chỉ về phần Âm , đất ở giữa, bao lấy số Dương 5. Ta lấy số Thành Âm lớn nhất (Số 10) so với số Sinh Dương nhỏ nhất (Số 1) ta có số 9 (10 - 1). Số 9 là số Dương lớn nhất và có ngậm Âm (Số 10) nên gọi là Lão Dương. So sánh Số Sinh Dương kế tiếp (Số 3) ta có Số 7 (10 - 3). Số 7 là Số Dương đứng liền với Số 9 Lão Dương nên gọi là Suy Dương (Dương đi theo chiều thuận từ 7 đến 9. Lấy Số Thành Âm lớn nhất mà so sánh với Số Sinh Âm lớn nhất (Số 4) ta có Số 6 ( 10 - 4). Số 6 có là do Âm lớn nên ta gọi là Lão Âm . So sánh với Số Sinh Âm kế tiếp (Số 2) ta có Số 8 (10 - 2). Số 8 có Số Sinh Âm nhỏ nên gọi là Suy Âm (Âm đi theo chiều nghịch từ 6 đến 8)

Số 1 là Thiếu Dương, Dương mới sinh, là Số khởi đầu của vì thế tạo lập các số khác, khởi đầu công cuộc tạo lập vũ trụ vạn vật (bởi vì Số 2 tạo ra do 1 + 1, Số 3 do 1 + 2, Số 4 do 1 + 3… từ Số 1 ta tạo ra Số 2 rồi lần lượt Số 3, Số 4 và tất cả các Số khác)

Số 2 là Thiếu Âm , Âm mới sinh, là Số tạo ra các Số Âm khác (bởi vì Số 4 tạo ra do 2 + 2, Số 6 do 2 + 4…), và Âm cộng Dương mới thành Dương (bởi vì 3 do 2 + 1, Số 5 do 2 + 3, Số 7 do 2 + 5…)

Số 3 là Thái Dương, Dương đã lớn, đã có mầm Âm , do Thiếu Dương 1 và Thiếu Âm 2 cộng lại. Dương cộng Dương mới thành Âm )bởi vì Số 4 do 3 + 1, Số 6 do 3 + 3, Số 8 do 3 + 5…)

Số 1 được coi là Số Trời (Dương), Số 2 là Đất (Âm), và Số 3 (do 1 + 2) là Số Thái Cực phần Âm Dương: Ta Có, Hữu Ngầu (trái Lẽ, phải Chấn). Số 3 có thể lìa nhau được thì gọi là Tam, không lìa nhau được thì gọi là Tham. Số 2 có thể lìa nhau được thì gọi là Nhị, không lìa nhau được thì gọi là Lương. Trong các Số Sinh thì Dương có 3 Số (1, 3, 5) được gọi là Tham Thiện, Âm có 2 Số (2 và 4) được gọi là Lương đia. Số 3 là Can Số của Dương, Số 2 là Can Số của Âm nên gọi là Tham Thiên Lương Địa. Số 5 là Số của Trời, chia ra thì được 3 và 2 nên cũng gọi là Tham Thiên Lương Địa.

Số 4 là Thái Âm , Âm lớn, do do hai Thiếu Âm cộng lai (2 + 2) hoặc do Thiếu Dương (1) và Thái Dương (3) cộng lại mà ra. Cục Dương thì biến thành Âm (bởi vì

4 do 3 + 1) còn cục Âm thì vẫn là Âm ( bởi vì 4 + 2 là 6, vẫn là Âm ), không biến nên ta nói Dương thì Đông mà Âm thì Tinh.

Khi Âm Dương sinh hành Khí thì nước (Thủy) có trước nhất nên Thủy đươ.c mang Số 1

Có nước rồi thì cần hơi nóng (Hỏa) thì vạn vật mới sinh nên Hỏa mang Số 2

Có nước và hơi nóng thì thảo Mộc (Mộc) mới sinh ra nên Mộc mang Số 3

tiếp đến Kim khí hình thành nên Kim mang Số 4

vạn vật sinh Hỏa từ đất (Thổ) mà ra và cuối cũng trở về đất nên Thổ mang Số 5

Ngũ hành là khí do Âm Dương tác Hỏa nên cũng sinh Hỏa không ngừng. Năm hành trên tương tác với nhau như sau:

Ngũ hành tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ

Ngũ hành tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ

Đông hành thì tị hỏa

Sinh khắc là hai trạng thái bù đắp nhau làm cho ngũ hành sinh đồng và trường tồn. Khi thông thuận thì cần Sinh để thăng tiến, khi bế tắc thì đôi khi cần khắc để biến hóa đi đến chổ tốt hơn. Sinh để xây dựng nên, khắc để biến hóa đi, có Sinh thì có hóa, có khắc mới hóa, và có hóa mới lại sinh ra. có vậy thì vạn vật mới trường tồn bất diệt.Như vậy các quẻ trong Tiên Thiên Bát Quái là Tượng của Âm Dương chuyển hóa, các chấm trên Hà Đồ là những con Số của ngũ hành sinh khắc. Âm Dương họat động sinh ngũ hành, như vậy Bát Quái là Thể và Hà Đồ là Dụng. giữa Bát Quái và Hà Đồ có nhiều điểm tương đồng về Âm Dương như Khôn Âm và Thủy Âm đều ở phương Bắc, Càn Dương và Hỏa Dương đều ở phương Nam, Chấn Dương và Mộc Dương ở Đông, Khảm Âm và Kim Âm ở Tây. các quẻ đối đãi nhau ở Bát Quái và các số liền nhau của Hà Đồ đều cũng đối qua trục Bắc Nam và Đông Tây như Càn đối với Khôn thì 1 - 6 đối với 2 - 7. Li đối với Khảm thì 3 - 8 đối với 4 - 9… Nếu xét về có Ngâu thì các Số của Hà Đồ biểu thị cho phần Âm Dương sinh thành ra ngũ hành, nếu xét về phương vị và sự phối hợp giữa các con số thì đó là sự sinh khắc chế Hỏa của ngũ hành

vhvd
06-08-2006, 09:25 PM
NGŨ HÀNH CỦA TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Đúng lý ra thì các quẻ phải an theo phương vị tự nhiên, nằm ở phương nào thì có hành khí ở đó, nhưng các sách về Lý Số đều ghi rằng:

Khảm thuộc Thủy

Chấn Tốn thuộc Mộc

Ly thuộc Hoa

Khôn Cấn thuộc Thổ

Càn và Đoài thuộc Kim

vhvd
06-08-2006, 09:26 PM
LẠC THƯ (SỐ CỦA NGŨ HÀNH HẬU THIÊN)

Lạc Thư chỉ về sự sinh hóa của các Số Ngũ Hành (thuộc về vạn vật, con ngươi). Trên Lạc Thư có 9 con số, không có sô 10 và chỉ về việc người (Nhân Sự), thuộc về Đất, nói về Hậu Thiên nên Lạc thư có hình Vương. Tổng số của các con số trên Lạc Thư (Hậu Thiên) là 45, trong khi trong Hà Đồ (Tiên Thiên) là 55. Tuy không có số 10, nhưng trong Lạc Thư số 5 ở giữa vẩn chu tòan công việc lám cho các số 1 và 6, 2 và 7, 3 và 8, 4 và 9 vận dụng cạnh nhau như trong Hà Đồ. Số 5 là số chuyển tiếp, được đất vào giữa để các số Dương 1, 3, 5, 7, 9 đủ cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Âm thể hiện Dương sinh Âm, và các số Âm 2, 4, 6, 8, 10 đủ cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Dương thế hiển Âm sinh Dương. Tổng số Dương ở ngoài (tức là không tính số Dương 5 ở giữa) bằng tổng số Âm và bằng 20, nghĩa là Âm Dương quân bình. Các con số trong Lạc Thư hình thành một Ma Phương Trận, trong đó khi cộng dọc, cộng ngang, hay cộng chéo ta luôn luôn được 15. Trong Hà Đồ thì ở giữa có số Sinh (5) và số Thành (10) của hành Thổ, đó là thuộc Tiên Thiên, tư nhiên, chưa hoạt động. Ở Lạc Thư ở giữa không có số Thành (số 10) của Thổ, và sơ đồ đi hoạt động ở bên ngoài, đó là thuộc Hậu Thiên, vạn vật hoạt động. Trên Địa Bàn thuộc Hậu Thiên thì Thổ ở bốn phương Thìn Tuất Sữu Mùi (Tứ Mộ, Tứ Khố) để phụ giúp các hành kia.

Trong Lạc Thư thì Âm Dương đã phân tán ra đủ 4 Phương và 4 Hướng: các số Dương (số Lẻ) thì đóng ở bốn phương chính (Chính Phương), số Âm (số Chẳn) thì đóng ở bốn hướng phụ (bằng Phương), làm hộ các số Âm Dương đi xen kẻ với nhau để tác động cho nhau mà sinh hóa. Các số thứ tự đều từ dưới đi lên (1 lên 2,3 lên 4, 5 ở giữa, 6 lên 7,8 lên 9), có nghiã Thái Cực tính ở dưới này đã chuyện động và phần Âm Dương. Ăm trong Ngũ Hành chuyển động mạnh khắp 4 phương, 4 hướng để tạo vật. Trái lại, Hà Ðồ chỉ có bốn Phương chính và Trung Cung, mọi nơi đều cố một số Âm và một số Dương bao bọc lấy nhau. Các số thự tự thì đối xung nhau theo hai trục Bắc Nam và Ðông Tây: 1 qua 2, 3 qua 4, 5 ở giữa, 6 qua 7, 8 qua 9. Trong Hà Ðồ thì Âm Dương Ngũ Hành khi đó chưa sinh hóa, còn giữ cơ số và hợp nhất trong Thái Cực.

Trong Lạc Thư thì tổng số tung hoành đều là 15, số 15 đã đi hoạt động ở ngoài, chỉ còn số 5 ở giữa và độ số 5 ấy mà có các số 6, 7, 8, 9 là số thành nên thuộc về Hậu Thiên. Số của Hà Ðồ ở giữa thì tổng số là 15 (10 + 5), bằng tổng số các số Sinh ( 1, 2, 3, 4) nên thuộc Tiên Thiên.

Số của Lạc Thư cũng có số 10 (1 + 9, 2 + 8, 3 + 7), thêm số 5 ở giữa thành 15. Ở Hà Ðồ, số của Trời Ðất có 10 (bởi vì 1 + 2 + 3 + 4 = 10), thêm số Sinh kế tiếp (số 5) thì thành 15.

Ở Lạc Thư thì lấy số 5 Cơ (số lẻ) thông lanh 4 số Ngẫu (số Chẳn), làm dọc ngang cho nhau, ở liền nhau (1 - 6, 2 - 7, 3 - 8, 4 - 9), gây đến cái Dụng của biển số. Số của Trời Ðất cũng lấy số Sinh 5 thông lanh 5 số Thành mở ra cái Thế của Thường Số.

Vạch của Tiên Thiên Bát Quái thì Cơ Ngẫu đối nhau. Ở Lạc Thư thì Số Sinh và Số Thành cũng đối nhau. Tiên Thiên Bát Quái thì lấy thuần Âm, thuần Dương mà đặt ở dưới, còn Lạc Thư thì lấy số lớn nhất (số 9) và số nhỏ nhất (số 1), nghiã là số Sinh và Thành mà đặt ở dưới

Trong Lạc Thư, nếu bỏ số 5 ở giữa thì số Sinh 1 sẻ ở giữa hai số Thành 6 và 8. Số Thành 9 sẻ ở giữa hai số Sinh 2 và 4. Hai số Sinh 3 và 4 cũng ở một phía, hai số Thành 6 và 7 thì ở cập bên nhau. Ở Tiên Thiên Bát Quái thì Can là qủe Dương đặt ở giữa hai quẻ Âm là Tốn và Ðoài. Khôn là quẻ Âm đặt ở giữa hai quẻ Dương là Cấn và Chấn. Li Ðoài là hai quẻ Âm cũng ở một chổ. Khảm cấn là hai quẻ Dương cũng ở một chổ. Như vậy là cũng làm biểu lí cho nhau.

Trong Lạc Thư thì Số Sinh 1, 3, 4 được xếp thuận, Số Thành 6, 7, 9 được xếp nghịch, số 2 và 8 đối chọi nhau. Ở Hậu Thiên Bát Quái thì Khôn Mẹ cung Trung Nữ, Thiếu Nữ (Li Ðoài) được xếp thuận, còn Càn Cha và Trung Nam, Thiếu Nam (Khảm Cấn) được xếp nghịch. Phần Trưỡng Nam, Trưỡng Nữ (Chấn Tốn) thì đối chọi nhau. Như vậy cũng làm biểu lí cho nhau. Như vậy Tiên Thiên và Hậu Thiên cũng làm biểu lí, thể dụng cho nhau mà làm cho vũ trụ vạn vật sinh động không ngưng

vhvd
06-08-2006, 09:27 PM
ÂM DƯƠNG VẬN HÀNH TRONG LẠC THƯ:

Số Dương thì đi từ dưới lên trên, từ Trái quá Phái: 1 ở Bắc, lên 3 Ðông, vào giữa 5, qua 7 Tây, lên 9 Nam. Dương cục ở số 9 (nên hào Dương được gọi là Hào Cửu, và số 9 được gọi là Lão Dương)

Số Âm thì đi từ trên xuống dưới, từ trái qua phải: 2 ở Tây Nam, qua 4 Ðông Nam, xuống 8 Ðông Bắc, qua 6 Tây Bắc. Âm cục ở số 6 (nên hào Âm được gọi là Hào Lục, và số 6 gọi là Lão Âm như trên đã viết)

Ở Hà Ðồ thì tất cả các số Sinh Thành đều thuận hành, sự chuyển động của Âm Dương Ngũ Hành mới về cái nguyên lý tự nhiên của Thái Cực. Ở Lạc Thư thì số Dương Sinh (1, 3) thì thuận hành mà số Dương Thành (7, 9) thì nghịch hành, còn số Âm Sinh (2, 4) lại nghịch hành, còn số Âm Thành (6, 8) lại thuận hành. Sự chuyển động của Âm Dương Ngũ Hành ở Lạc Thư nói về cái nguyên lí của Thái Cực đã phân tán và chuyện động rộng rãi để tạo nên các vật

vhvd
06-08-2006, 09:28 PM
NGŨ HÀNH SINH HÓA TRONG LẠC THƯ:

hai hành Hoả và Kim thay đổi vị trí với nhau

Số 1 - 6 thuộc Thuỷ ở hướng Bắc

Số 3 - 8 thuộc Mộc ở Ðông

Số 5 thuộc Thổ ở giữa

Số 2 - 7 thuộc Hoả ở Nam cuả Hà Ðồ chuyển qua Tây

Số 4 - 9 thuộc Kim ở Tây cuả Hà Ðồ được chuyển qua Nam

Sự kiện nay làm cho Phương Vị sinh khắc của Ngũ Hành nơi Lạc Thư trái ngược với Ngũ Hành nơi Hà Ðồ: hai hành đối nghịch nhau thì lại tương sinh, còn hai Hành đi theo vòng tròn mà lại đi nghịch (nghịch hành) thì lại tương khắc. Sự thay đổi này thể hiện sự thay đổi từ Tỉnh qua Ðộng, Từ Sinh qua Hoá, từ Thể qua Dụng, từ Lý qua Biểu, từ Thái Cực qua Vũ Trụ. Ở Hà Ðồ, hai nhóm số 2 - 7 thuộc hoả ở Nam và 4 - 9 thuộc Kim ở Tây cung giao nhau ở giữa là Thổ mà tương sinh. Ở Lạc Thư thì hai nhóm số ấy đối chọi cho nhau thành ra Hoả khắc Kim theo chiều nghịch ở vòng ngoài. Ðối là Ngũ Hành đã ra ngoài mà hoạt động nên có khác che. Nếu ta lấy 2 - 7 cộng lại thì là số 9 thuộc Kim vẩn còn an ở đó, và lấy số 9 chia ra thì 2 - 7 thuộc Hoả cũng còn bóng dáng ở đó

Hà Ðồ tượng trưng cho Nôi Giới (Thiện), Lạc Thư tương trưng cho Ngoại Giới (Ðiạ), Hà Ðồ thuộc về lí Thái Cực, vô hình. Lạc Thu thuộc về Khí Vũ Trụ, hữu hình. Hà Ðồ là Thể, Lạc Thư là Dụng. Hà Ðồ thuộc về Nội Hướng Tiên Thiên, Lạc Thư thuộc về Ngoại Hướng Hậu Thiên. Hà Ðồ là Ðạo Nội Thánh, nội trị. Lạc Thư là Dạo Ngoại Vương, ngoại trị.

vhvd
06-08-2006, 09:31 PM
HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Căn cứ vào Hà Ðồ và Lạc Thư, vua Chu Văn Vương đã xếp đặt lại 8 quẻ Tiên Thiên, đặt ra Hậu Thiên Bát Quái, chỉ về hoạt động của Nhân Sự (việc người) và sắp xếp lại 64 Trung Quái cho hợp với cuộc sống con người, rồi viết Hào Từ, Thoán Từ để giáng giải về các vạch và quẻ. Phương vị và thứ tự của Hậu Thiên Bát Quái được sắp xếp theo lí trí của con người.

Thứ tự cuả Hậu Thiên Bát Quái là Càn Khảm Cấn Chấn (thuộc Dương Nghi), Tốn Ly, Khôn Ðoài (thuộc Âm Nghi) trong đó Ly ở Nam và Khảm ở Bắc, khác với Tiên Thiên Bát Quái là Cấn ở Nam Khôn ở Bắc. Bát quái này chỉ về nhân sinh, do Thủy Hoả cần thiết cho đời sống con người nên được coi trọng và đặt Khảm Ly ở hai trục chính là trục Bắc Nam. Vật sinh do Thủy mà vật trưởng do Hỏa. Khí động thì Dương sinh và thành Hỏa, khí ngưng thì Âm sinh và thành Thủy. Như vậy Thủy Hỏa là Âm Dương, khi khơi động thì là Khảm Ly trong Hậu Thiân Bát Quái (và là Càn Khôn trong Tiên Thiên Bát Quái).

Theo thứ tự sắp xếp thì:

Càn là trời, đất ở Tây Bắc nơi đó có núi thấp và có bình nguyên sa mạc nên bầu trời cao sang. Càn ở giữa Khảm và Ðoài là nước trên trời đổ xuống đầm ao.

Khảm là Nước, đặt ở chính Bắc, lục nữa đêm vì phiá này lạnh và mưa nhìều

Cấn là Núi, đặt ở Ðông Bắc vì nơi này có núi cao nổi tiếng. Cấn ở giữa Khảm và Chấn, núi cao hứng lấy mưa gió và sấm sét và cấn cần dụng giữa nưóc (Khảm) và cây (Chấn) thì cây mới sống được.

Chấn là Sấm, đất ở chính Ðông vì nơi đây là biển thường có sấm. Sấm động ở biển Ðông làm cho vạn vật tăng trưởng

Tốn là Gió, đất ở Ðông Nam vì gió Ðông Nam nhiều và mát. Ðối diện với Càn là Tốn, gió Ðông Nam là gió mặt trên trời (Càn) thôi xuống. Tốn ở giữa Chấn và Li, sấm sét (Chấn) sinh ra lửa (Li), lửa sinh ra gió (Tốn’)

Ly là Lửa, đất ở chính Nam vì hướng này nóng và vào lúc giữa trưa mặt trời chói chang

Khôn là Ðất, đất ở Tây Nam vì nơi đây nhiều cao nguyên lớn (Ðất). Khôn ở giữa Li và Ðoài ngăn cách nước ở đầm ao và Hỏa Kim không cho khắc chế nhau.

Ðoài là Ðầm Ao, đất ở chính Tây vì nơi đây nhiều núi nên có nhiều đầm hồ, tưới nước nuôi vạn vật.

Vì Hậu Thiên Bát Quái chỉ về nhân sinh nên Càn tương Cha, Khôn tương Mẹ. Khảm tượng Thứ Nam, Cấn tượng Thiếu Nam, Chấn tượng Trưởng Nam, Tốn tượng Trưởng Nử, Ly tượng Thứ Nữ, Đoài tượng Thiếu Nữ. Quẻ có một vạch Dương thì là quẻ Dương, tượng là con trai. Quẻ có một gạch Âm thì là quẻ Âm, tượng là con gái. Bốn quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn ở phần Dương Nghi đều là quẻ Dương (1 vạch Dương làm chủ), đó là cha đất ba trai. Bốn quẻ Tốn, Ly, Khôn, Đoài ở phần Âm đều là Âm quái (1 vạch Âm làm chủ), đó là mẹ dịu bà gái. Theo thứ tự của Hậu Thiên Bát Quái thì ta thấy Cha (Càn) đi trước, còn Trưởng Nam (Chấn) thì đọc hau, gái lớn (Trưởng Nữ) thì lấy chồng xuất gia trước, con gái út (Thiếu Nữ) thì nấp bóng mẹ và lấy chồng sau cùng, đúng như tổ chức của gia đinh loài ngươi.

Trong Tiên Thiên Bát Quái thì cứ hai quẻ đối nhau thì công bằng 9 (Càn Khôn (1 + 8), Đoài Càn (2 + 7), Li Khảm (3 + 6), Chấn Tốn (4
+ 5)) mà số 9 là số của Lão Dương (hào 9 hay hào Cửu), mà Dương chi về Trời. Ở Hậu Thiên thì cụ hai quẻ đối nhau, ngoài trừ Li Khảm là trực chính của Trời thì cộng bằng 9 (3 + 6), đều cộng lại bằng 6 (Càn Tốn (1 + 5), Khôn Cấn (8 + 7 = 15, 1 + 5 = 6), Chấn Đoài (4 + 2)) mà số 6 là số của Lão Âm (hào Lực) mà Âm thì thuộc về Đất (người và vật).

vhvd
06-08-2006, 09:32 PM
NGŨ HÀNH CỦA HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Ở Tiên Thiên hào quái là Tướng của Âm Dương tự nhiên tự do tạo ra hành khí chứ không mang sang hành khí, còn Ngũ hành của Hậu Thiên Bát quái do con người xếp đặt ra theo thực tế môi trường xung quanh và cùng phụ hợp với hành tự nhiên giống như Hà Đồ:

Khảm là nước nên mang hành Thủy, đặt ở Phương Bắc, mùa Đông, nửa đêm, khí hậu lạnh

Ly là lửa nên mang hành Hỏa, đặt ở Phương Nam, mùa Hạ, giữa trưa, khí hậu nóng

Càn và Đoài ở Phương Tây, có nhiều núi non hầm mỏ kim khí nên thuộc Kim

Chấn và Tốn ở Phương Đông, vùng giáp biển cả, cây cỏ xanh tốt nên thuộc Mộ

Cấn ở Tây Nam và Khôn ở Đông Bắc là hai nơi có nhiều cao nguyên và núi lớn, đều là đất nên thuộc Thổ

Nói rỏ hơn:

Can thuộc Kim đối Thủy vì gần Khảm

Khảm thuộc Thủy đối Thổ vì gần Cấn

Cấn thuộc Thổ đối Mộc vì gần Chấn

Chấn thuộc Mộc đối Hỏa vì gần Li

Ly thuộc Hỏa đối Thổ vì gần Khôn

Khôn thuộc Thổ đối Kim vì gan Đoài

Đoài thuộc Kim

Riêng hành Thổ của Cấn Khôn thì xuyên qua hành Thổ ở Trung cung của Hà Đồ lại có tác dụng làm thấy đối sự sinh khắc giữa Thủy Mộc và Kim Hỏa: đặt Khôn Thổ giữa Ly Hỏa và Đoài Kim làm cho hai hành này đang tương khắc (Hỏa khắc Kim) lại thành tương sinh (Hỏa Ly sinh Thổ Khôn, Thổ Khôn sinh Kim Đoài). Đặt Cấn Thổ vào giữa Khảm Thủy và Chấn Mộc làm cho hai hành nay đang tướng sinh (Thủy sinh Mộc) lại thành ra tương khắc (Mộc Chấn khắc Thổ Cấn, Thổ Cấn khắc Thủy Khảm). Ở Hậu Thiên Bát Quái thì Khôn Cấn nguyên là Thổ, đối mặt nhau ở Tây Nam Đông Bắc, xuyên qua trung tâm Thổ để điều hòa sự sinh khắc giữa Hỏa Kim và Thủy Mộc của Ly Đoài, Khảm Chấn. Ở Hà Đồ thì Thổ ở trung cung yểm trợ cho các hành khác. Thổ đóng vai trò quan trọng là như vậy.

vhvd
06-08-2006, 09:32 PM
ÂM DƯƠNG TRONG HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Ở Hậu Thiên Bát Quái thì bên Dương Nghi có đủ bốn quẻ Dương, bên Âm Nghi có đủ bốn quẻ Âm, nghĩa là Âm Dương đã phân tán như Âm Dương phân tán ở Lạc Thư. Âm Dương đã phân rõ lập thành một thế quân bình tuyệt đối để đi tới một thế mất quân bình tạm thời, rồi lại trở về quân bình, và cứ như thế mãi nên mới có sự sinh động và sinh hòa. Trái lại, ở Tiên Thiên thì phần Dương Nghi có hai quẻ Dương và hai quẻ Âm, phần Âm Nghi có hai quẻ Âm và hai quẻ Dương. Đó là sự quân bình Âm Dương và trong Âm có Dương, trong Dương có Âm theo lẽ tự nhiên của lí Thái Cực

Đường phân Âm Dương Nghi hơi lệch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo ra một thế tạm thời mất quân bình để có thể trở về thế quân bình trong sinh hoạt của vạn vật. Trục Tây Bắc - Đông Nam là trục dọc của địa cầu, hơi lệch so voi thiên câu, như vậy sự sắp xếp hợp với tự nhiên. Ở Tiên Thiên thì Dương phân Âm Dương Nghi theo trục Bắc Nam là theo lẽ tự nhiên của Vũ Trụ (Thiên Lý), là trục chính của bầu trời Vũ Trụ.

Ở Hậu Thiên, cả Âm và Dương đều từ trên hạ xuống. Ở Tiên Thiên Âm Dương lưu hành trong Vũ Trụ theo thể tự nhiên theo chiều thuận, từ trái qua phải, từ Đông qua Tây, Dương nhẹ ở dưới bốc lên, Âm nặng từ trên hạ xuống

Âm Dương là nguyên lí có bản thì ở Tiên Thiên và Hậu Thiên đều tương tự và cùng hoạt động theo định luật cơ hữu Tiêu Trưởng Tiến Thoái chỉ có một điều khác là ở Hậu Thiên, khi lớn mạnh thì đi ra ngoài hoạt động.

Thiếu Dương từ Chấn (1 vạch) qua Li (hai vạch) là Dương sinh tức Thiếu Dương tới Đoài (2 vạch) và Càn (3 vạch) là Dương Trưởng, tức Thái Dương. Trong khi đó thì Âm ở Chấn (2 vạch) qua Li tới Đoài (đều 1 vạch) và chấm dứt ở Càn. Đó là Dương Trưởng, Âm tiêu.

Thiếu Âm từ Tốn (1 vạch) qua Khảm (2 vạch) và Khôn (3 vạch) là Âm Trưởng tức Thái Âm. Trong khi đó thì Dương ở Tốn (2 vạch) qua Khảm (1 vạch) qua Cấn (1 vạch) và chấm dứt ở Khôn. Đó là Âm Trưởng Dương Tiêu

Đó cũng là Âm cực thì Dương Sinh, Âm Thịnh thì Dương Suy và ngược lại Dương Thăng (đi lên Nam) và Âm Giáng (đi xuống phía Bắc)

Ta cũng thấy rằng nếu theo Hào thì Dương từ Chấn dưới đi lên Càn cao (Nam) là Dương đi Thuận (Thăng), còn Âm thì từ Tốn trên đi xuống Khôn dưới (Bắc) là Khôn đi nghịch (Giáng). Theo Quái thì phần Dương có Can 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, từ Cha đến con là Dương đi thuận. Phần Âm có Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, từ Con lên Mẹ là Âm đi nghịch.

vhvd
06-08-2006, 09:36 PM
SÁU MƯƠI BỐN QUẺ KÉP (TRÙNG QUÁI) CỦA HẬU THIÊN

Sáu mươi bốn trùng quái ở Tiên Thiên được sắp xếp lại theo thứ tự, không đưa vào sự chuyển hóa của Âm Dương Ngũ Hành và được viết thành Chu Dịch để ứng dụng cho việc lập thân xử thế của con người.

PHÂN BIỆT CÁCH SỬ DỤNG TIÊN THIÊN BÁT QUÁI VÀ HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Khoa Lý Số sử dụng Hậu Thiên Bát Quái để hỏi về việc của con người, Tiên Thiên Bát Quái để hỏi về vấn để lớn có ảnh hưởng tới toàn xã hội. Về sau Hậu Thiên Bát Quái được đất vào Địa Bàn để ứng dụng trong các môn học thuật để tìm nhận sự thuộc Hình Nhi Hạ Học, còn Tiên Thiên Bát Quái được đặt vào Thiên Bàn để ứng dụng trong Thiên Văn Học thuộc Hình Nhi Thượng Học.

Để vận dụng qui luật Âm Dương Ngũ Hành trong đời sống, cổ nhân đã tạo ra hệ Can Chi (10 Can, 12 Chi) để lập lịch theo Can Chi đo đạc thời gian

NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH PHƯƠNG HƯỚNG CỦA THẬP CAN

Có 5 hành, 2 yếu tố Âm Dương thành ra sử dụng 10 Can để phối hợp cả hai yếu tố Âm Dương và Ngũ Hành.Thập Can gồm có 10 tên, mỗi tên được ứng vào một số như sau:

Giáp (1), Ất (2), Bính (3), Đinh (4), Mậu (5), Kỷ (6), Canh (7), Tân (8) Nhâm (9) Quí (10)

Sự phân định Âm Dương cho 10 Can được căn cứ vào số của Hà Đồ, Dương là số Lẻ, Âm là số Chẳn. Như vậy: Âm Dương: Giáp Bính Mậu Canh Nhâm thuộc Dương

Ất Đinh Kỷ Tân Quí thuộc Âm

Người ta cho rằng sự phân định Ngũ Hành của Thập can cũng dựa vào Hà Đồ. Trong Hà Đồ thì Thổ ở Trung Ương. Trong dãy số của Thập Can từ 1 đến 10 thì 5 và 6 (Mậu Kỷ) cùng ở chính giữa. Do đó Mậu Kỷ được xếp vào giữa, hành Thổ. Từ đó theo nguyên tắc tương sinh của các hành để qui định hành của các Can còn lại:

Thổ sinh Kim nên Canh Tân hành Kim

Kim sinh Thủy nên Nhâm Quí hành Thủy

Thủy sinh Mộc nên Giáp Ất hành Mộc

Mộc sinh Hỏa nên Bính Đinh hành Hỏa.

Như vậy Ngũ Hành:

Giáp Ất hành Mộc

Bính Đinh hành Hỏa

Mậu Kỷ hành Thổ

Canh Tân hành Kim

Nhâm Quý hành Thủy

Căn cứ vào Âm Dương có người phân biệt như sau

Giáp là thời kỳ mầm sống của vạn vật nảy sinh bừng dậy nên Giáp là cây lớn

Ất khí hậu ấm áp, vạn vật tươi tốt nên Ất là loại cỏ

Bính nóng bức như hun nên Bính lửa của mặt trời

Đinh nóng mà không gắt nên Đinh lửa của đèn đuốc hay bếp lò

Mậu đất cao ráo, đất ở thành quách hay bờ đê

Kỷ đất ẩm thấp hay đất ở ruộng vườn

Canh khí hậu thu liễm nên Canh là đao kiếm

Tân khí hậu trong mát nên Tân là đồ vàng bạc trang sức

Nhâm nước đến lẫm liệt nên Nhâm nước ở sông hồ

Quí ẩm thấp ướt át nên Quí nước mưa hay nước sương rời từng giọt

Có người chỉ căn cứ vào Âm Dương mà cho rằng:

Giáp là Dương Mộc, Mộc ở giai đoạn phát triển, trang thịnh

Ất là Âm Mộc, Mộc ở giai đoạn suy yếu, tàn tạ

Bính là Dương Hỏa, Hỏa đang mạnh

Đinh là Âm Hỏa, Hỏa đang suy yếu lụn bại

Mậu là Dương Thổ, đất cao, đất cứng, đất màu mỡ

Kỷ là Âm Thổ, đất thấp, đất mềm, đất bạc màu

Canh là Dương Kim, Kim đang cứng

Tân là Âm Kim, Kim đang suy

Nhâm là nước mạnh

Qui là nước yếu

Vì Thiên Can đã được gán ghép Ngũ Hành nên phải có qui luật sinh khắc của nó

vhvd
06-08-2006, 09:37 PM
SỰ SINH KHẮC GIỮATHIÊN CAN

THIÊN CAN TƯƠNG HỢP (THIÊN CAN NGŨ HỢP):
Người ta lấy cấp số sinh thành của ngũ hành hợp nhau trong Hà Đồ phối hợp với vị trí thứ tự của THIÊN CAN tạo ra THIÊN CAN tương hợp. Trong Hà Đồ thì 1 - 6, 2 - 7, 3 - 8, 4 - 9, 5 - 10 đi cặp đôi với nhau. Đối với THIÊN CAN thì Giáp 1, Ất 2, Bính 3,...,Quí 10. Hai Can cùng cấp số thì tương hợp. Như vậy:

Giáp (1, +) hợp Kỷ (6, -)

Ất (2, -) hợp Canh (7, +)

Bính (3, +) hợp Tân (8, -)

Đinh (4, -) hợp Nhâm (9, +)

Mậu (5, +) hợp Quí (10, -)

Giáp hợp Kỷ còn được gọi là Giáp Kỷ tương hợp.

Nhận xét:

THIÊN CAN tương hợp thì tuân theo luật giao cảm (nguyên tắc Âm Dương gặp nhau thì hút nhau), và ở cùng vị trí (đi cặp với nhau) trên Hà Đồ. Tương hợp thì Cách 5 (5 là số trung cung trên Hà Đồ).

Căn cứ vào ngũ hành thì ta nhận thấy rằng THIÊN CAN tương hợp thì phải đủ hai yếu tố là phải ngũ hành tương khắc (nghĩa là khắc nhau để đưa đến sự hòa sinh như trên đã đề cặp), nghĩa là phải có sự trái ngược về Âm Dương thì mới có sự tương hợp.

Giáp hợp Kỷ (Dương Mộc khắc Âm Thổ)

Ất hợp Canh (Âm Mộc bị Dương Kim khắc)

Bính hợp Tân (Dương Hoa khắc Âm Kim)

Đinh hợp Nhâm (Âm Hỏa bị Dương Thủy khắc)

Mậu hợp Quí (Dương Thổ khắc Âm Thủy)

vhvd
06-08-2006, 09:39 PM
THIÊN CAN TƯƠNG KHẮC (THIÊN CAN XUNG)

Giáp phá (còn gọi là khắc hay xung) Mậu (Dương Mộc khắc Dương Thổ)

Ất phá Kỷ (Âm Mộc khắc Âm Thổ)

Bính phá Canh (Dương Hoa khắc Dương Kim)

Đinh phá Tân (Âm Hỏa khắc Âm Kim)

Mậu phá Nhâm (Dương Thổ khắc Dương Thủy)

Kỷ phá Quí (Âm Thổ khắc Âm Thủy)

Canh phá Giáp ( Dương Kim khắc Dương Mộc)

Tân phá Ất (Âm Kim khắc Âm Mộc)

Nhâm phá Bính (Dương Thủy khắc Dương Hỏa)

Quí phá Đinh (Âm Thủy khắc Âm Hỏa)
Nhận xét:

Khi Hàng Can phá nhau thì cùng Âm Dương (nguyên tắc động khí thì đẩy nhau) và hành tương khắc. Tương khắc thì Cách 4 Như Giáp 1 Mậu 5, cách 4. Như vậy phải cùng Âm Dương và ngũ hành tương khắc thì mới có sự xung nhau (Như vậy xung nhau thì không đưa đến sự hòa sinh)

THIÊN CAN TƯƠNG XUNG

Giáp (+ Mộc) xung Canh (+ Kim)(1 - 7)

Ạt (- Mộc) xung Tân (- Kim)(2 - 8)

Bính (+ Hỏa) xung Nhâm (+ Thủy) (3 - 9)

Đinh (- Hỏa) xung Quí ( - Thủy)(4 - 10)

Mậu ( + Thổ) Kỷ (-, Thổ) bất tương xung

Nhận xét: tương xung thì Cách 6, và đòi hỏi cung Âm Dương, hành xung khắc. Nếu khắc Âm Dương hoặc hành không khắc thì không xung)

THIÊN CAN NGŨ HỢP HÓA (hóa là biến thành cái khác)

Nếu hợp căn cứ theo cấp số của Hà Đồ ghép hai Can tương hợp với nhau thì hóa căn cứ vào ngũ vận của Đông Y, biến đổi tính chất ngũ hành của Thập Can gọi là Can đa biến hóa hay thiên can ngũ hóa. Theo Ngũ Vận của Đông Y thì thiên can ngũ hóa như sau:

Giáp Kỷ hợp hóa Thổ

Ất Canh hợp hóa Kim

Bính Tân hợp hóa Thủy

Đinh Nhâm hợp hóa Mộc

Mậu Quí hợp hóa Hỏa

Giải thích

Cụ Hải Thượng Lãn Ông thì căn cứ vào vợ (Can Âm) chồng (Can Dương) phối hợp, con cháu sinh thành để giải thích thiên can ngũ hợp hóa như sau:

Giáp (chồng), Kỷ (vợ) Vượng ở Dần, sinh Dương Hỏa là Bính (trưởng nam), Hỏa Bính sinh hóa Thổ (trưởng Tôn). Vậy Giáp Kỷ hợp hóa Thổ

Canh (chồng), Ất (vợ), Vượng ở Tỵ, sinh Dương Thổ là Mậu (trưởng nam), Thổ sinh Kim (trưởng tôn). Vậy Ất Canh hợp hóa Kim

Bính (chồng), Tân (vợ), Vượng ở Sửu, sinh Dương Kim là Canh (trưởng nam), Kim sinh Thủy (trưởng tôn). Vậy Bính Tân hợp hóa Thủy

Nhâm (chồng), Đinh (vợ), Vượng ở Hợi, sinh Dương Mộc là Giáp (trưởng nam), Mộc sinh Hỏa (trưởng tôn). Vậy Đinh Nhâm hợp hóa Mộc

Mậu (chồng), Quí (vợ), Vượng ở Mùi, sinh Dương Thủy là Nhâm (trưởng nam), Thủy sinh Mộc (trưởng tôn). Vậy Mậu Quí hợp hóa Hỏa

Theo Thiệu Vĩ Hoa thì Thập Can hóa hợp là do phương vị của 28 Thiên thể quyết định theo vận khí học thuyết.

Chú ý: khi hợp (tức là khắc Âm Dương, ngũ hành tương sinh hoặc tương khắc) thì sẽ đưa đến hóa như đã đề cặp bên trên

vhvd
06-08-2006, 09:40 PM
THẬP CAN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG:

Sử dụng phương vị trên Hà Đồ căn cứ vào ngũ hành

Giáp Ất hành Mộc nên ở phương Đông (vì hành Mộc ở phương Đông)

Bính Đinh hành Hỏa nên ở phương Nam

Mậu Kỷ hành Thổ nên ở trung ương

Canh Tân hành Kim nên ở phương Tây

Nhâm Quí hành Thủy nên ở phương Bắc

THẬP CAN VÀ MÙA

Giáp Ất thuộc mùa Xuân

Bính Đinh thuộc mùa Hạ

Mậu Kỷ thuộc Trưởng Hạ

Canh Tân thuộc mùa Thu

Nhâm Quí thuộc mùa Đông

THẬP CAN VÀ THÂN THỂ

Giáp là đầu

Ất là vai

Bính là trán

Đinh là răng lưỡi

Mậu Kỷ là mũi mặt

Canh là gân

Tân là ngực

Nhâm là bắp chân

Quí là chân

THẬP CAN VÀ TẠNG PHỦ

Giáp là mật

Ất là gan

Bính là ruột non

Đinh là tim

Mậu là dạ dầy

Kỷ là lá lách

Canh là ruột già

Tân là phổi

Nhâm là bàng quang

Quí là Tạng

Số lẻ là phủ, số chẳn là Tạng

vhvd
06-08-2006, 09:41 PM
NGUYÊN TẮC ĐỊNH ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH PHƯƠNG HUỚNG CỦA THẬP NHỊ CHI

Thập Nhị Chi bao gồm tên của 12 con vật, mỗi tên được ứng vào một số như sau:

Ti'(1), Sửu (2), Dần (3), Mão (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12)

PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG: theo số trên Hà Đồ, Dương là lẻ, Âm là Chẳn nên:

Âm Dương

Tí Dần Thìn Ngọ Thân Tuất thuộc Dương

S& #7919;u Mão Tị Mùi Dậu Hợi thuộc Âm

NGŨ HÀNH:

Vị trí của 12 Địa Chi là vị trí cố định theo hai trục Bắc Nam (Thủy Hỏa) và Đông Tây (Mộc Kim). Mười hai Chi được viết theo chiều thuận trên một vòng tròn, mỗi Chi cách nhau một góc 30 độ, Tị bắt Dậu từ hướng Bắc. Để xác định hành cho các Chi một cách hợp lý nhất, người xưa đã chọn hành của các cung như sau:

Hợi Tị (huớng Bắc) thuộc Thủy

Dần Mão (huớng Đông) thuộc Mộc

Tỵ Ngọ (huớng Nam) thuộc Hỏa

Thân Dậu (hướng Tây) thuộc Kim

Còn hành Thổ ở chính giữa thì chia làm 4, nằm ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi để điều hòa quá trình sinh khắc giữa các hành (Thìn Tuất Dương Thổ, Sửu Mùi Âm Thổ)

Nếu xét về các tiết trong năm thì trục Tí Ngọ tương ứng với hai tiết Đông Chí (Tí) và Hạ Chí (Ngọ), còn trục Mão Dậu thì tương ứng với hai tiết Xuân Phân (Mão) và Thu Phân (Dậu) trong năm. Theo lịch Kiến Đan (lịch sử dụng tháng 11 có tiết Đông Chí) thì tháng Giêng có tiết Lập Xuân là tháng Dần. Như vậy theo lịch này thì 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi là 4 tháng giao mùa. Các tháng nay hành Thổ

Có người cho rằng:

Dần dương Mộc

Mão Âm Mộc

Thìn dương Thổ, đất thấp

Tỵ Âm Hỏa

Ngọ dương Hỏa

Mùi Âm Thổ, đất khô ráo

Thân dương Kim

Dậu Âm Kim

Tuất dương Thổ, đất cao

Hợi Âm Thủy

Tỵ dương Thủy

Sửu Âm Thổ đất ướt mềm

vhvd
06-08-2006, 09:43 PM
ĐỊA CHI VÀ PHƯƠNG HUỚNG
Dần Mão Thìn phương Đông, Mão thuộc chính Đông

Tỵ Ngọ Mùi thuộc phương Nam, Ngọ thuộc chính Nam

Thân Dậu Tuất thuộc phương Tây, Dậu thuộc chính Tây

Hợi Tị Sửu thuộc phương Bắc, Tị thuộc chính Bắc

Các Chi khác tuy vị trí thuộc phương xen kẻ thiên về phương chính gần mình, ví dụ Dần thuộc Đông Bắc thiên Đông

ĐỊA CHI LỤC XUNG (TƯƠNG XUNG)

Tí và Ngọ tương xung (Dương Thủy khắc Dương Hỏa)

Dần và Thân xung (Dương Kim khắc Dương Mộc)

Mão và Dậu xung (Âm Kim khắc Âm Mộc)

Tỵ và Hợi xung (Am Thủy khắc Âm Hoa)

Còn Sửu và Mùi xung, Thìn và Tuất xung trong một số sách đã coi là tương hóa nhau vì đều thuộc hành Thổ, hoặc coi là đồng lọai tương xung hay bằng hữu tương xung

Nhận xét:

Khi hai Chi xung nhau thì cùng Âm Dương, Phương Hướng đối nhau và hành tương khắc. Địa Chi Tương xung thì Cách 6 giống như thiên can. Như vậy giong như thiên can, phải có sự cùng Âm Dương (vá hành tương khắc) thì mới có tương xung

Bất cứ Chi nào khởi đếm theo thứ tự , Chi đó là 1 tới vị trí thứ 7, ta có Chi xung, xung tất khắc nên gọi là Thất Sát (Thất là 7, Sát là hung thần). Người xưa giải thích số 7 này là số tận cùng của Trời Đất, là khí cực Âm Dương

Tương xung thực chất là xung khắc nhau, tương khắc nên không tốt

Giải Thích:

Thiệu Vĩ Hoa cho rằng Lục xung là sự đối địch giữa các ngôi của 12 Đia Chi, cũng tức là sự tương khắc của ngũ hành

Tí Ngọ tương xung: Quí Thủy ẩn tàng trong Tị khắc Đinh Hỏa ẩn tàng trong Ngọ. Kỷ Thổ ẩn tàng trong Ngọ phân khắc lại Quí Thủy ẩn tàng trong Tị nên nói Tị Ngọ tương xung

Sửu Mùi tương xung: Kỷ Thổ ẩn tàng trong Mùi khắc Quí Thủy ẩn tàng trong Sửu. Đinh Hỏa ẩn tàng trong Mùi khắc Tân Kim ẩn tàng trong Sửu nên nói Sửu Mùi tương xung

Dần Thân tương xung: Giáp Mộc ẩn tàng trong Dần khắc Mậu Thổ ẩn tàng trong Thân. Canh Kim ẩn tàng trong Thân phân khắc lại Giáp Mộc ẩn tàng trong Dần nên nói Dần Thân tương xung

Mão Dậu tương xung: Tân Kim ẩn tàng trong Dậu khắc Ất Mộc ẩn tàng trong Mão, nhưng Đông xung Tây mà không xung được (nghĩa là Mão Mộc chỉ có thể xung Dậu Kim chứ không thể khắc Dậu Kim)

Thìn Tuất tương xung: Quí Thủy ẩn tàng trong Thìn khắc Đinh Hỏa ẩn tàng trong Tuất. Tân Kim ẩn tàng trong Tuất phân khắc lại Ất Mộc ẩn tàng trong Thìn nên nói Thìn Tuất tương xung

Tỵ Hợi tương xung: Canh Kim ẩn tàng trong Tỵ khắc Giáp Mộc ẩn tàng trong Hợi. Nhâm Thủy ẩn tàng trong Hợi phân khắc lại Bính Hỏa ẩn tàng trong Tỵ nên nói Tỵ Hợi tương xung

vhvd
06-08-2006, 09:44 PM
ĐỊA CHI NHỊ HỢP (ĐỊA CHI LỤC HỢP, ĐỊA CHI TƯƠNG HỢP) VÀ ĐỊA CHI LỤC HỢP HÓA

Tương hợp với nhau thì tốt

Tí (+ Thủy) hợp Sửu (- Thổ)

Dần (+ Mộc) hợp Hợi (- Thủy)

Mão (- Mộc) hợp Tuất (+ Thổ)

Thìn (+ Thổ) hợp Dậu (- Kim)

Tỵ (- Hỏa) hợp Thân (+ Kim)

Ngọ (+ Hỏa) hợp Mùi (- Thổ)

Nhận xét:

Cung nhị hợp thì đối xứng qua trục tháng đứng, hai cung đối nhau theo hàng ngang trên Địa Bàn

Chi Dương thì hợp với chi Âm và ngược lại (khắc khi thì hút nhau). Như vậy thì phải khắc Âm Dương mới có sự hợp nhau (và phải có sự tương sinh hoặc tương khắc về ngũ hành như đã đề cập bên trên )

Chú ý: Thiệu Vĩ Hoa còn chia tương hợp ra thành trong hợp có khắc và trong hợp có sinh. Trong hợp có khắc nghĩa là hai Chi tuy hợp nhau nhưng ngũ hành thì khắc nhau như Tị (Thủy) hợp Sửu (Thổ). Trong hợp có sinh thì hai Chi hợp nhau và ngũ hành tương sinh như Dần (Mộc) hợp Hợi (Thủy). Hợp có khắc thì trước tốt sau xấu, hợp có sinh thì càng ngày càng tốt.

Có người giải thích rằng:

Theo sự sắp xếp của Địa Chi trong 12 cung thì:

Tí Sửu ở dưới làm đất hợp Thổ

Ngọ Mùi ở trên làm trời [Ngọ ở trên làm mặt trời (Thái Dương), Mùi làm mặt trăng (Thái Âm)] hợp Hỏa

Thiên Khí của trời tỏa xuống, Địa Khí của đất bốc lên tạo ra 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông

Dần Hợi ở dưới ngang hợp Xuân Mộc

Xuân rồi đến Hạ nên Mão Tuất hợp Hạ Hỏa

Hạ đến Thu nên tiến lên Thìn Dậu hợp Thu Kim

Thu đến Đông nên Tỵ Thân hợp Đông Thủy

Một số người viết:

Tí Sửu hợp hóa Thổ

Dần Hợi hợp hóa Mộc

Mão Tuất hợp hóa Hỏa

Thìn Dậu hợp hóa Kim

Tỵ Thân hợp hóa Thủy

Ngọ Mùi hợp hóa Hỏa

Thiệu Khang Tiết thì cho rằng:

Tí và Sửu hợp hóa thành Thổ

Dần và Hợi hợp hóa Mộc

Mão và Tuất hợp hóa Hỏa

Thìn và Dậu hợp hóa Kim

Tỵ và Thân hợp hóa Thủy

Ngọ và Mùi hợp, Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm, hợp với nhau thành Thổ

Nhưng đa số các sách cho rằng Địa Chi thì chỉ hợp không có hóa, 6 cặp trên là lục hợp, căn cứ vào hợp với 4 mùa rồi từ đó hợp luôn với ngũ hành của 4 mùa, không có hóa như Thiên Can

Nhận xét

Theo nguyên tắc đã đề cập trên , khi hợp thì sẽ có hóa, nên Địa Chi khi hợp thì phải có Hỏa)

vhvd
06-08-2006, 09:44 PM
ĐỊA CHI TƯƠNG HÌNH

Là cản trở lẩn nhau, không hòa hợp

Tí (+ Thủy) Ngọ (+ Hỏa),

Mão (- Mộc) Dậu (- Kim)

Dần (+ Mộc) Thân (+ Kim)

Tỵ (- Hỏa) Hợi (- Thủy)

Thìn (+ Thổ) Tuất (+ Thổ)

Sửu (- Thổ) Mùi (- Thổ)

Nhận định:

Ít nhất cần phải có sự cùng Âm Dương mới có sự tượng hình

Theo Thiên y thì tượng hình cần phải cùng Âm Dương và ngũ hành khắc nhau, do đó Thìn và Tuất, Sửu và Mùi không tượng hình

ĐỊA CHI TƯƠNG HẠI (ĐỊA CHI LỤC HẠI, ĐỊA CHI NHỊ HẠI)

Là hại lẫn nhau, là chịu hại, bị hại tức là tương khắc. Tương hại thì không tốt. Trên Địa Bàn thì Nhị hại là hai cung đối nhau theo hàng dọc

Tị (+ Thủy) Mùi (- Thổ) tương hại

Sửu (- Thổ) Ngọ (+ Hỏa) tương hại

Dần (+ Mộc) Tỵ (- Hỏa) tương hại

Mão (- Mộc) Thìn (+ Thổ) tương hại

Thân (+ Kim) Hợi (- Thủy) tương hại

Dậu (- Kim) Tuất (+ Thổ) tương hại

Giải thích:

Thiệu Vĩ Hoa căn cứ vào sách Khao Nguyên ghi rằng phàm bất cứ việc gì tốt nhất là gặp hợp, kỵ gặp Xung. Lục Hại phát sinh từ Lục hợp

Tí hợp với Sửu bị Mùi xung: Sửu bị xung, Tị không còn gì để hợp cho nên Tị Mùi tương hại

Sửu hợp với Tị bị Ngọ xung: Tị bị xung, Sửu không còn gì để hợp cho nên Sửu Ngọ tương hại

Dần hợp với Hợi bị Tỵ xung: Hợi bị xung, Dần không còn gì để hợp cho nên Dần Tỵ tương hại

Mão hợp với Tuất bị Thìn xung: Tuất bị xung, Mão không còn gì để hợp cho nên Mão Thìn tương hại

Thìn hợp với Dậu bị Mão xung: Dậu bị xung, Thìn không còn gì để hợp cho nên Thìn Mão tương hại

Tỵ hợp với Thân bị Dần xung: Thân bị xung, Tỵ không còn gì để hợp cho nên Tỵ Dần tương hại

Ngọ hợp với Mùi bị Sửu xung: Sửu bị xung, Ngọ không còn gì để hợp cho nên Ngọ Sửu tương hại

Mùi hợp với Ngọ bị Tị xung: Ngọ bị xung, Mùi không còn gì để hợp cho nên Mùi Tị tương hại

Thân hợp với Tỵ bị Hợi xung: Tỵ bị xung, Thân không còn gì để hợp cho nên Thân Hợi tương hại

Dậu hợp với Thìn bị Tuất xung: Thìn bị xung, Dậu không còn gì để hợp cho nên Dậu Tuất tương hại

Tuất hợp với Mão bị Dậu xung: Mão bị xung, Tuất không còn gì để hợp cho nên Tuất Dậu tương hại

Hợi hợp với Dần bị Thân xung: Dần bị xung, Hợi không còn gì để hợp cho nên Hợi Thân tương hại

vhvd
06-08-2006, 09:46 PM
ĐỊA CHI TƯƠNG HÌNH (PHẠT)
Hình là do Mãn cực tức đầy quá, đầy quá thì sẽ đưa đến sự tổn hại. Địa Chi có ba hình gọi là Địa Chi tam hình

TRÌ THẾ CHI HÌNH

Dần hình Tỵ

Tỵ hình Thân

Thân hình Dần

Gọi là trì thế chi hình hay đắc thế chi hình (tức là do có quyền thế, quyền bính, thế lực mà bị phạt)

Giải thích:

Dần chứa Giáp Mộc, Tỵ chứa Mậu Thổ, Mộc khắc Thổ

Tỵ chứa Bính Hỏa, Thân chứa Canh Kim, Hỏa khắc Kim

Thân chứa Canh Kim, Dần chứa Giáp Mộc, Kim khắc Mộc

Ba chi các hành đó đều ở thời kỳ đắc Lộc (vị trí Lâm Quan), can Dương mãnh liệt, các hành y vào vị trí đắc lộc mạnh mẽ mà ức chế nhau nên gọi là trí thế chi hình

VÔ ÂN CHI HÌNH

Sửu hình Tuất

Tuất hình Mùi

Mùi hình Sửu

gọi là vô ân chi hình (bị hình phạt vì vô ân, chịu ơn nhưng không báo đáp, lại còn hại ân nhân)

Giải thích:

Sửu chứa Quí Thủy, Tuất chúa Đinh Hỏa, Thủy khắc Hỏa

Tuất chứa Tân Kim, Mùi chứa Ất Mộc, Kim khắc Mộc

Mùi chứa Đinh Hỏa, Sửu chứa Tân Kim, Hỏa khắc Kim

Ba chi này dùng tòan can Âm ức chế nhau, đặc tính của Âm là tiêu nhận, gia trả vô ân bạc nghĩa nên gọi là vô ân chi hình

VÔ LỄ CHI HÌNH

Tị hình Mão

Mão hình Tị

gọi la` vô lễ chi hình (hình phạt do vô lễ)

Giải Thích:

Mão Mộc vượng, Tị Thủy vượng, nước vượng quá cây úng sẽ chết, cây vượng quá sẽ hút hết nước, nên dù Thủy sinh Mộc nhưng nếu quá thịnh sẽ hình nhau, không biết lễ nghĩa để nhường nhịn để sinh nhau nên gọi là vô lễ chi hình.

Ngoài ra hai sao này còn chứa Đào Hoa là một sao chủ tửu sắc dâm dục

TỰ HÌNH CHI HÌNH

Ngọ hình Ngọ

Dậu hình Dậu

Thìn hình Thìn

Hợi hình Hợi

gọi là tự hình chi hình vì tự mình hình mình

Nếu xếp vào từng cặp và phương huớng ta có

Dần Ngọ Tuất Tỵ Dậu Sửu Thân Tị Thìn Hợi Mão Mùi

Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Dần Mão Thìn Hợi Tị Sửu

Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, Quí với Tỵ Mão Mùi ở Nam Phương thuộc Hỏa, Hỏa mãn cục nên hình.

Tỵ Dậu Sửu Kim cục, Quí với Thân Dậu Tuất ở Tây Phương thuộc Kim, Kim mãn cục nên hình.

Thân Tị Thìn Thủy cục, nước chảy về Đông thì thịnh, Dần Mão Thìn phương Đông nên Thân Tị Thìn hình với Dần Mão Thìn.

Hợi Mão Mùi Mộc cục, Thủy sinh Mộc nhưng nước nhiều làm lở đất hại cây. Hợi Tị Sửu ở dưới thuộc Phương Bắc Thủy, cây đổ ngã xuống dưới, nên Hợi Mão Mùi hình Hợi Tị Sửu.

Có sách nói số 10 là số lớn nhất của Hà Đồ, thịnh cực, trừ những chi tự hình, các Chi khác đếm bắt đầu từ Chi đó đến chi thứ 10 là Chi hình. Thí Dụ Mão là cung thứ 1 đếm theo chiều thuận cung thứ 10 là Tí, Mão Tị tương hình. Tị theo chiều nghịch đến cung thứ 10 lại là Mão

Nếu chi căn cứ vào cục và Phương, có thuyết cho rằng các Chi sau hình lẫn nhau:

Thân Tị Thìn Hợi Mão Mùi Dần Ngọ Tuất Tị Dậu Sửu

Hợi Tị Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất

Thân Tị Thìn thuộc Thủy cục, lại qui về Hợi Tị Sửu ở Phương Bắc thuộc Thủy, Thủy mãn cực nên hình. Lý luận tương tự cho các Chi sau.

Thiệu Vĩ Hoa thì giải thích căn cứ vào sách Âm Phù Kinh như sau:

Tam hình sinh ở Tam hợp, giống như Lục Hại sinh ở Lục Hợp. Theo đạo Trời mà nói tam hình là số cực, tức tội ác đầy rẫy khắp nơi nên phải dẫn đến sự đổ xập.

Thân Tị Thìn tam hợp, thêm ba ngôi Dần Mão Thìn thì Thân hình khắc Dần, Tị hình khắc Mão, Thìn tự hình Thìn

Dần Ngọ Tuất tam hợp, thêm ba ngôi Tỵ Ngọ Mùi thì Dần hình Ty, Ngọ tự hình Ngọ, Tuất hình Mùi

Tỵ Dậu Sửu tam hợp, thêm ba ngôi Thân Dậu Tuất thì Tỵ hình Thân, Dậu tự hình Dậu, Sửu hình Tuất

Hợi Mão Mùi tam hợp, thêm ba ngôi Hợi Tị Sửu thì Hợi tự hình Hợi, Mão hình Tị, Mùi hình Sửu

Tượng hình chủ về hung, chủ về các việc như bị tổn hại, bệnh tật, lao tù. Nguyên tắc của tượng hình giống như Tam Hợp Cục. Chổ khắc nhau là ba Tí có thể hình một Mão, một Mão có thể hình ba Tí, còn hai Mão không thể hình một Tí, hoặc một Tí không hình được hai Mão. Ngoài ra có trường hợp tham hợp vong hình, tham sinh vong hình đều là nhũng trường hợp có cừu

vhvd
06-08-2006, 09:48 PM
ĐỊA CHI VÀ TAM HỢP HỢI CỤC (TAM HỢP CỤC)

Dần Ngọ Tuất thuộc tam hợp Dương Hỏa (Hỏa cục) (hay Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục)

Thân Tị Thìn thuộc tam hợp Dương Thủy (Thủy cục)

Tỵ Dậu Sửu thuộc tam hợp Âm Kim (Kim cục)

Hợi Mão Mùi thuộc tam hợp Âm Mộc (Mộc cục)

Giải thích tam hợp cục theo lý thuyết vận khí:

Lục Khí theo Đông Y gồm có

Quyết Âm Phong Mộc là sơ khí

Thiếu Âm Quân Hỏa là nhị khí

Thiếu Dương Tướng Hỏa là tam khí

Thái Âm Thấp Thổ là tứ khí

Dương mình Táo Kim là ngũ khí

Thái Dương Hàn Thủy là lục khí hay chung khí

Thân Tị Thìn bắt đầu cùng giờ Dần

Hợi Mão Mùi bắt đầu cùng gio Hợi

Dần Ngọ Tuất bắt đầu cùng giờ Thân

Tỵ Dậu Sửu bắt Dậu cùng giờ Tỵ

căn cứ vào đó người ta cho

Thân Tị Thìn hợp thành một cục, đó là Thủy cục

Hợi Mão Mùi hợp thành một cục, đó là Mộc cục

Dần Ngọ Tuất hợp thành một cục, đó là Hỏa cục

Tỵ Dậu Sửu hợp thành một cục, đó là Kim cục

cục và Phương Huớng đều lấy Tị Ngọ Mão Dậu xếp vào giữa hai chi khắc, nhưng phương là khí thịnh, cục là khí chuyển vào

Chú ý: Thiệu Vĩ Hoa cho rằng:

Tam hợp cục là lấy Sinh Vượng Mộ để hợp thành cục. Thủy Tràng Sinh tại Thân, để Vượng ở Tí, Mộ ở Thìn nên ba Chi Thân Tị Thìn hợp thành Thủy cục. Mộc Tràng Sinh ở Hợi, để Vượng ở Mão , Mộ ở Mùi nên ba Chi Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục. Hỏa Tràng Sinh ở Dần, để Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất nên ba Chi Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục. Kim Tràng Sinh ở Tỵ, Đế Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu nên ba Chi Tỵ Dậu Sửu hợp thành Kim cục.

Tam hợp hóa cục có cát có hung tùy theo quan hệ sinh khắc. Nếu bị khắc mà được Tam hợp cục tương sinh cứu giúp thì lại cát, nếu bị khắc mà lại bị tam hợp cục khắc thêm vào thì lại là hung

vhvd
06-08-2006, 09:50 PM
MÙA VÀ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

ÂM DƯƠNG: Xuân Hạ Dương Khí tăng trưởng, Âm Khí tiêu giảm thuộc Dương

Thu Đông Âm Khí tăng gia, Dương Khí tiêu tán, thuộc Âm

NGŨ HÀNH

Xuân thuộc Mộc vì lúc đó cây cỏ sanh tươi, đang phát triển

Hạ thuộc Hoả vì lúc đó khí trời nóng nực

Thu thuộc Kim vì lúc đó cây cỏ tàn tạ do Kim khắc Mộc

Đông thuộc Thủy vì lúc đó khí trời lạnh lẽo, nước lạnh

Tứ Qúi tức 18 ngày cuối giao của 4 mùa thuộc Thổ nên gọi là tạp khí

Mùa Vượng (Tràng) Tướng(Sinh) Hữu(Lão) Tử Tuyệt(Tu?)

Xuân Mộc Hỏa Thủy Kim Thổ

Hạ Hỏa Thổ Mộc Thủy Kim

Thu Kim Thuỷ Thổ Hoả Mộc

Đông Thuỷ Mộc Kim Thổ Hoả

Tứ Quí Thổ Kim Hoả Mộc Thuỷ

Mùa Xuân: Mộc Khí thịnh vượng nên Mộc Vượng (Tràng), Mộc sinh Hoả nên Hoả Tướng, Thuỷ Khí già nua vì đã qua mùa Đông, cây rút hết nước, nên Thuỷ Hữu (Lão), Kim Khắc Mộc nên Kim Tử, Mộc khắc Thổ nên Thổ Tuyệt.

SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH TRONG NĂM THEO MÙA

Hành Vượng Tướng Hữu Tử Tuyệt

Mộc Mùa Xuân Mùa Đông Mùa Hạ Tứ Quí Mùa Thu

Hoả Mùa Hạ Mùa Xuân Tứ Quí Mùa Thu Mùa Đông

Thổ Tứ Quí Mùa Hạ Mùa Thu Mùa Đông Mùa Xuân

Kim Mùa Thu Tứ Quí Mùa Đông Mùa Xuân Mùa Hạ

Thuỷ Mùa Đông Mùa Thu Mùa Xuân Mùa Hạ Tứ Quí

SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH THEO THIÊN CAN

Sự dụng vòng Tràng Sinh để theo dõi, năm Dương thì Tràng Sinh bắt đầu từ Dần Thân Tỵ Hợi và Địa Chi đi Thuận, năm Âm thì Tràng Sinh bắt đầu từ Tí Ngọ Mão Dậu và Địa Chi đi nghịch để tiếp tục ghi các giai đoạn kế tiếp của vòng Tràng sinh: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng

vhvd
06-08-2006, 09:52 PM
VÒNG TRÀNG SINH

Toàn bộ các Hành đều sinh trưởng theo chu kỳ như sau:

Thai (Hành khí mới bắt đầu kết tinh, thời kỳ gây mầm mống)

Dưỡng (Hành khí đang tăng lên, như con được nuôi trong bụng mẹ)

Tràng Sinh (Hành khí được sinh ra, như trẻ con mới sinh, thời kỳ manh nha phát động của Hành)

Mộc Dục (Hành khí còn non yếu, như con còn ấu thơ, được tạm gọi cho sạch sẽ, chân tay còn vô lực, không chống đỡ cầm giữ được gì cả, còn non yếu dễ chết, gọi là BẠI ĐỊA)

Quan đới (Hành khí đã lớn, như con đã lớn cho đội mũ)

Lâm Quan (Hành khí ở trong thời kỳ mạnh mẽ, tràng vượng, con phát triển được, như con trai đã trở thành thanh niên lớn khỏe đi làm quan, nên đương cần vị trí của Lâm Quan còn gọi là LỘC VỊ)

Đế Vượng (Hành khí vượng đến cực điểm, sắp sửa đi vào giai đoạn suy, gọi là VƯỢNG ĐỊA)

Suy (Hành khí bước vào giai đoạn bắt đầu suy yếu, là dư khí vì lúc đó khí thịnh của đế vượng vẫn còn sót lại)

Bệnh (Hành khí suy yếu lắm rồi, như già bị ốm đau)

Tử (chết, Hành khí tan)

Mộ (chôn vùi, tạo hoá thấu táng, có dư khí, hồi quang phản chiếu)

Tuyệt (khí tuyệt, hoàn toàn hết không còn gì cả)

Trong chu kỳ trên, Hành khí có sức ảnh huởng đến ngoài đáng kể là Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ)

Phân định ảnh huởng: trong chu kỳ 12 trên thì chỉ có vị trí của Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ là có khí sức để có thể ảnh hưởng ra bên ngoài

Phân định Âm Dương: Thai, Dưỡng, Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan thuộc về Dương, huớng thịnh, theo chiều thuận. Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt thuộc Âm, huớng suy, theo chiều nghịch

Giáp Dương Mộc thì Tràng Sinh tại Hợi (Mộc Dục ở Tí vì đi thuận)

Ất Âm Mộc thì Tràng Sinh tại Ngọ (Mộc Dục ở Tỵ vì đi nghịch)

Bính Dương Hoả thì Tràng Sinh tại Dần

Đinh Âm Hoả thì Tràng Sinh tại Dậu

Mậu Dương Thổ thì Tràng Sinh tại Dần

Kỷ Âm Thổ thì Tràng Sinh tại Dậu

Canh Dương Kim thì Tràng Sinh tại Tỵ

Tân Âm Kim thì Tràng Sinh tại Tí

Nhâm Dương Thuỷ thì Trang Sinh tại Thân

Qúi Âm Thuỷ thì Tràng Sinh tại Mão

VÒNG VƯỢNG TƯỚNG HỮU TỬ CỦA KHÍ NGŨ HÀNH LƯU CHUYỂN TRÊN 12 CUNG ĐỊA CHI (Giải thích trên cơ sở Mùa trong năm)

Mộc Khí: là khí của Mùa Xuân, sẽ bắt đầu sinh vào lúc bắt đầu Mùa Đông, để
kịp thịnh vượng vào Mùa Xuân, Thuỷ sinh Mộc nên Mộc sinh ở Hợi (Hợi là tháng 10, tháng bắt đầu Mùa Đông, Hợi thuộc Thuỷ). Theo chiều thuận, Tràng Sinh ở Hợi, Mộc Dục ở Tí...Tử Dậu (Thai) đến Dần thì theo chiều tiến, huớng vượng thuộc Dương là vị trí của Giáp (Dương) Mộc, còn từ Mão đến Thân theo chiều thóai, hướng suy thuộc Âm là vị trí của Ất (Âm) Mộc

Hoả Khí: là khí của Mùa Hạ, sinh ở Dần, Tràng sinh ở Dần, Thai ở Tí. Giải

thích như trên

Tử Tí đến Tỵ (?) là vị trí Bính (Dương) Hoả, từ Ngọ đến Hợi là vị trí Đinh (Âm) Hoả

Kim Khí: là khí của Mùa Thu, sinh ở Tỵ, Tràng Sinh ở Tỵ, Thai ở Mão

Từ Mão đến Thân là vị trí của Canh (Dương) Kim, từ Dậu đến Dần là

vị trí của Tân (Âm) Kim

Sự giải thích Kim sinh ở Tỵ không thể đúng tháng bắt đầu cho Mùa mà khi chủ về ngũ Hành tương sinh để giải thích cho vị trí trường sinh, nên một số người giải thích như sau: Kim khí nảy sinh vào tháng Tỵ đầu Mùa Hạ để kịp thịnh vượng vào đầu Mùa Thu, Mùa mà Kim khí làm chủ. Hạ thuộc Hoả, nhưng Hoả sinh Thổ, mà Thổ sinh Kim, qúi Hạ Thổ thịnh nhất trong 4 qúi, vậy Kim khí sinh tại Tỵ Hạ Hoả

Thuỷ Khí: là khí của Mùa Đông, giải thích sự bắt đầu sinh như Mộc Khí. Thuỷ
khí sinh ở Thân, Tuyệt ở Tỵ, Thai ở Ngọ... Từ Ngọ đến Hợi là vị trí của Nhâm Thuỷ, từ Tí đến Tỵ là vị trí của Qúi Thuỷ

Thổ Khí: theo bài Bát Quái thì vượng ở Trung Tâm, tàn ra 4 gốc ở Thìn Tuất

Sửu Mùi, vậy Thổ vượng ở Thìn Tuất Sửu Mùi, phù vào Thuỷ và Hoả nên sinh ở Thân Dần

vhvd
06-08-2006, 09:53 PM
SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH CÁC ĐỊA CHI

Hành Mộc Tràng Sinh ở Hợi, Đế Vượng ở Mão, Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi

Hành Hoả Tràng Sinh ở Dần, Đế Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu, Mộ ở Tuất

Hành Kim Tràng Sinh ở Tỵ, Đế Vượng ở Dậu, Tử ở Tí, Mộ ở Sửu

Hành Thuỷ Thổ Tràng Sinh ở Thân, Đế Vượng ở Tí, Tử ở Mão, Mộ ở Thìn

SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH CÁC ĐỊA CHI CĂN CỨ VÀO NGŨ HÀNH BỐN MÙA (Thiệu Vĩ Hoa)

Mùa Xuân, Hành Mộc sinh ở Hợi, Vượng ở Mão, Mộ ở Mùi

Mùa Hạ, Hành Hoả và Thổ sinh ở Dần, Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất

Mùa Thu, Hành Kim sinh ở Tỵ, Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu

Mùa Đông, Hành Thuỷ sinh ở Thân, Vượng ở Tí, Mộ ở Thìn

Ngũ Hành của các Địa Chi vượng ở cuối bốn Mùa, và Mộ ở Thìn Tuất Sửu Mùi, nghĩa là sự thịnh suy đều do trật tự của bốn Mùa và thuộc tính của ngũ Hành quyết định, cũng như Xuân đi thì Hạ đến, Hạ đi thì Thu đến

PHONG (GIÓ)
Phong là gió, tuy ngũ Hành phối hợp phương huớng và 4 Mùa ta suy ra:

Xuân: Đông Phong làm chủ

Hạ: Nam Phong làm chủ

Thu: Tây Phong làm chủ

Đông: Bắc Phong làm chủ

Đông Xuân giao nhau, Đông Bắc Phong làm chủ

Xuân Hạ giao nhau, Đông Nam Phong làm chủ

Hạ Thu giao nhau, Tây Nam Phong làm chủ

Thu Đông giao nhau, Tây Bắc Phong làm chủ

NGŨ KHÍ

Mùa Xuân, Phong khí làm thời lệnh

Mùa Hạ, Thử khí làm thời lệnh

Mùa Thu, Táo khí làm thời lệnh

Mùa Đông, Hạn khí làm thời lệnh

KHÍ HẬU

Mùa Xuân ấm, muôn vật phát sinh

Mùa Hạ nóng, muôn vật trưởng thành

Mùa Thu mát, muôn vật thu nhóm

Mùa Đông lạnh, muôn vật ẩn táng

vhvd
06-08-2006, 09:53 PM
NGŨ HÀNH VÀ TÍNH TÌNH (Theo Thiệu Vĩ Hoa)

Mệnh Kim thì nghĩa khí

Mệnh Hoả chủ về lễ, trong cư xử thường có lễ. Nếu Hoả nhiều, Hoả vượng thì nóng nảy dễ hỏng việc

Mệnh Thổ giữ chữ tín, nói một là một, hai là hai, giữ lời. Thổ vượng thì thích tịnh, không thích động, do đó để mất thời cơ

Mệnh Mộc thì hiền từ, tấm lòng tốt. Nhưng Mộc vượng thì tính cách không khuất phục, đặc biệt Tang Đố Mộc thì thà chết chứ không chịu sống quì gối

Mệnh Thuỷ thì mưu trí, thông minh ham học, nhưng phải trải qua nhiều gian khổ. Thuỷ vượng thì tính tình gặp nóng, hung bạo dễ gây ra tai họa

ĐỊA CHI VÀ TẠNG PHỦ

Tí, bàng quang

Sửu Mùi, lá lách

Dần, mật

Mão, gan

Thìn Tuất, dạ dày

Tỵ, tim

Ngọ, ruột non

Thân, ruột già

Dậu, phổi

Hợi, thận

CHIA NHÓM CỦA CÁC CUNG

Cung Dần Thân Tỵ Hợi gọi la Tứ Sinh

Cung Tí Ngọ Mão Dậu gọi là Tứ Tuyệt

Cung Thìn Tuất Sửu Mùi gọi là Tứ Mộ

tom_xp
11-01-2007, 08:09 PM
Hoa hết cả mắt. Nếu mình có khoảng 100 năm rỗi rãi thì cũng nghiên cứu chơi ...

uyenuyen
18-04-2007, 10:45 AM
Kính gửi Vhvd

Thiên can hợp hóa có cơ sở để nhận thức tại sao hóa ? vì sao Giáp-Kỷ hợp hóa Thổ, Ất-Canh hợp hóa Kim,...?
Theo vị trí địa lý Việt nam, phía Đông là biển, phía Tây là đât và đồi núi. Khi Đất-10 vào trung tâm, thì bốn phương chính của Hà đồ Đông-Tây-Nam-Bắc sẽ thay đổi Ngũ hành như sau: phía Đông sao Thủy, phía Tây sao Thổ, phía Bắc sao Mộc, phía Đông sao Kim.

cuongdm
03-05-2007, 06:55 AM
Bài viết khá đầy đủ. Cảm ơn nhiều.

khanh67
03-05-2007, 11:10 AM
Xin cảm ơn Vhvd . Bài viết của bạn hay quá.

phac
07-05-2007, 08:40 PM
Lục Khí theo Đông Y gồm có

Quyết Âm Phong Mộc là sơ khí

Thiếu Âm Quân Hỏa là nhị khí

Thiếu Dương Tướng Hỏa là tam khí

Thái Âm Thấp Thổ là tứ khí

Dương mình Táo Kim là ngũ khí

Thái Dương Hàn Thủy là lục khí hay chung khí

Thân Tị Thìn bắt đầu cùng giờ Dần

Hợi Mão Mùi bắt đầu cùng gio Hợi

Dần Ngọ Tuất bắt đầu cùng giờ Thân

Tỵ Dậu Sửu bắt Dậu cùng giờ Tỵ

căn cứ vào đó người ta cho

Thân Tị Thìn hợp thành một cục, đó là Thủy cục

Hợi Mão Mùi hợp thành một cục, đó là Mộc cục

Dần Ngọ Tuất hợp thành một cục, đó là Hỏa cục

Tỵ Dậu Sửu hợp thành một cục, đó là Kim cục

cục và Phương Huớng đều lấy Tị Ngọ Mão Dậu xếp vào giữa hai chi khắc, nhưng phương là khí thịnh, cục là khí chuyển vào

Tôi mới nghiên cứu về lĩnh vực này, Thiếu dương tướng hỏa và Thiếu âm quân hỏa thì hỏa nào là căn cứ để có tam hợp Dần Ngọ Tuất ? Thú thật, khó hiểu quá !

uyenuyen
08-05-2007, 11:52 AM
Chào Phac.

Khi có thể, Phac nên tìm giáo trình giảng dạy Đông y của Trường đại học y Hanoi, tên sách " Học thuyết Âm dương Ngũ hành",và sách "Hoàng đế nội kinh" để có thêm nhận thức về Lục Khí theo Đông y.
Bài viết này lấy tên là " Học thuyết Âm Dương Bát quái Ngũ hành". Người viết bài này có thêm từ "Bát quái". Đây là một lĩnh vực rất rộng trong nền tảng văn hóa phương Đông. Theo thời gian, hy vọng Phac dành thời gian cho những kiến thức mà Phac quan tâm.