View Full Version : Những lá số danh nhân & cổ nhân



phanthaianh
02-05-2007, 04:12 AM
(trích từ sách tử vi nghiệm lý - lý mệnh học của cụ Thiên Lương)

Phật Thích Ca
một vị đại hùng đại lực đại bi

- Thưa Tiên sinh, sau một thời gian theo dõi đọc Khoa Học Huyền Bí nhất là số ngày 15-10-1973, vừa rồi, tôi đánh bạo đến đây cầu mong tiên sinh chỉ bảo cho biết thêm về tử vi.
- Bạch đại đức, hôm nay Đại -Đức chiếu cố đến thật là vinh dự cho tôi, biết đâu sau khi ra về Đại - Đức sẽ thấy thất vọng, cái tôi chỉ là thiểu học không căn - bản. Sở dĩ tôi dám mạo muội trình vày ý kiến không ngoài mục đích tìm thầy mở lối.
- Xin tiên sinh đừng quá nhún nhường, tôi thật tình là một người tìm học Tử Vi, hôm nay có mang theo một lá số mà tôi có công sưu- tầm theo sự hiểu biết của tôi, mong tiên sinh giải đáp cũng như những lá số tiên sinh đã phân tích đã phân tích lâu nay trên Khoa Học Huyền bí để làm thước ngọc khuôn vàng cho mức học của tôi. Không nói ra, chắc sao khi xem, Tiên sinh cũng biết đây là số của Đức Thế -Tôn mà đời tôi đã trao trọn theo giáo thuyết của ngài. Căn cứ theo năm sanh của ngài là năm trước dương lịch ( Mậu Tuất), lấy ngày 08 tháng tư giờ Ngọ để lập thành, mong rằng tiên sinh cứ trung thực thử phân tích may ra tôi được thêm phần nào ánh sáng.
……………………….
Sau cuộc tiếp chuyện với vị Đại Đức không quen biết, không dám phụ lòng người đa thành thật chiếu cố, để đền đáp công người đến tận nhà khuyến khích. Được biết lá số của Đức Phật, tôi cố tìm kiếm những điểm chính nào mà Ngài đã hơn người là tuệ giác.
- Tuổi Mậu Tuất, mệnh thân đồng cung tại Hợi, ở vị trí sáng suốt cùng với thiên địa cảm thông, như người có sứ mạng, có sự đồng minh của thiêng liêng để dìu dắt nhân loại ( Thiếu Dương được Hồng Đào Hỉ). Thiên Không đây mới thật vấn đề tài tình. Ở vị trí Dần Thân Tỵ Hợi, Thiên Không phải phụ thuộc Hồng Loan, dầu đồng cung hay xung chiếu, là bản tính của người không ham phù vân, tự tu tự tỉnh biết trọng cái lý công bằng thiên nhiên, hễ vay là phải trả, muốn là phải khổ, mọi sự vật đều là không, là chân lý vô thường của nhà Phật, là chân lý thường diễn biến hàng giờ hàng phút, tất cả không có gì là không biến dịch từ cái sinh đến cái diệt cứ liên tục thay nhau bất tận của cái thế luân hồi.
- Phủ phùng không là cái phủ trống rỗng, là cái không có gì, ngay cái mệnh của Ngài coi cũng là Không, thiết tưởng Hồng – Lộc xung chiếu, Ngài còn thiết gì mà không ngăn cách bằng Tuần, huống chi Hồng Lộc là miếng mồi ở trong có thuốc độc (Hà-Sát) với Ngài là bậc tuệ giác làm sao mà không coi thường gạt bỏ.
- Thiên Không đã tài tình mà Cô Thần ở đây không kém phần đặc sắc. Người ta thường nói Nam kỵ Cô, nữ kỵ quả thì lý đương nhiên là người cô quạnh cho đến cả vợ con ruột thịt đồng bào nhân loại đại –đồng, dầu Đông hay Tây, Nam hay Bắc dưới tệ nhãn của Ngài (Thiếu Dương Thiên-Hỉ) đều là con người nay kiếp này, mai kiếp khác cũng như nhau, Ngài vẫn một tình thương âu yếm nhân hậu ( Thiên-Đức, Nguyệt –Đức, Long- Đức, Phúc-Đức).
- Khoa, Đào, Việt, Tả Hữu là vạn năng của Phật, dầu ở khía cạnh nào vẫn là tập trung ở cái nhân tứ đức, cái tuệ- giác quán thông của Ngài cùng trời đất( thân mệnh đồng cung).
- Thiên tướng cung Quan ở Mão là Thiên Tường hãm, nếu là tuổi khác không được Thiếu-Dương, không được Tứ-Đức, có lẽ đây là 1 ông thầy tướng số có hạng. Với Đức Phật như lá số này (Mậu-Tuất) chỉ là một thầy tu khiêm tốn không quyền uy, không ép buộc, không khuyến dụ ai phải theo mình, ai hỏi thì nói, nói rồi coi cũng như không nói. Thiên Tướng đây có tính cách bình dân muốn để quần chúng tự ý giải thoát mình, chứ Ngài không muốn cho mình là người sáng ban phát ơn-huệ cho ai là người mê muội. Cái phẩm chất của Thiên Tướng (Mão Dậu) nó đã giản dị cặp thêm thiên quan có ý nghĩa thông cảm trời cao (Dương), Thiên-Phúc đất rộng (Âm) là sứ mạng của người thông đạt lý lẽ âm dương muốn mọi người hết mê để tự mình thành Phật hết cả.
- Nó thong thả tự do tự mình cởi mở lấy mình, ngay cả những lời Ngài nói đừng có tin ngay. Chứng nào thấy chắc chắn có giá trị thì hãy theo cũng có nghĩa căn bảo người ta chớ đừng sùng- tín dễ dàng để rồi dễ thành thành –kiến sai lạc cho học thuyết luân lý hay tôn giáo.
- Căn cứ theo số này người Dần Ngọ Tuất vận hành đến Tỵ Dậu Sửu là phải khắc phục và bị sa lầy, biết rằng Ngài giác Ngộ từ năm 29 tuổi và dấn thân vào khổ hạnh hành xác mất 6 năm tức là ở giai đọan 22-31 mất 3 năm chót và 3 năm đầu ở giai đọan 32-41. Ngài đắc đạo năm 35 tuổi thành một vị thế tôn. Ở vị trí Quan-Phù, Thai-Tuế, Bạch Hổ cùng ảnh hưởng của Thái Dương ở Dần là mặt trời ló dạng ở Chân trời, rồi từ đó mà đi cho đến ngày tịch ở tuổi 80 ở cung Ngọ được Nhân loại tôn sùng kính bái cho đến ngày nay trên 2.500 năm.
- Đời Đức Thế Tôn Thích Ca dĩ nhiên Ngài thành Phật là ở chỗ Tuệ-giác hơn người ( thân mệnh đồng cung ở vị trí Thiếu Dương, Thiên-Hỉ hội đủ Tả Hữu, Khoa,Đào, Việt, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức và cả bộ Thiên Quan, Thjên Phúc) mới dứt bỏ được địa vị cao sang, vợ đẹp con khôn phải là một người hùng, không ỷ lại vào đâu để tìm chân lý là người có nghị lực, song rồi chỉ có một hoài-bão sao cho nhân loại được giải-thoát trần ai khổ ải là đại từ bi.
- Bạch Đại Đức theo lá số này, cứ như thiển kiến của tôi, có lẽ hình ảnh Đức Thế Tôn có phần in đúng, thì dĩ nhiên sự giác ngộ sâu rộng của Đại Đức đã tiến gần Đức Thế Tôn. Vậy để tạ lòng chiếu cố, tôi xin tóm tắt trình Đại Đức, không dám nào đánh trống qua cửa nhà sấm.
Nam mô a di đà phật
Năm Mậu Tuất ngày 08 tháng 4 giờ Ngọ
Dương lịch 26 tháng 05 lấy năm 1958 (tạm) ^_^ giờ ngọ.
( cón típ)

phanthaianh
03-05-2007, 01:46 AM
Một số lá số vô chính diệu đắc cách :
Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Hưng-Đạo-Vương là tước vị của hoàng thân Trần-Quốc-Tuấn, một vị danh tướng nhà Trần có chiến công không kém phần quan trọng và hiển hách so với các vị anh hùng dân tộc như Đại đế Quang Trung, Lê-Thái-Tổ. Ngài là vị anh hùng đuổi quân xâm lăng Mông cổ, chứ không phải chỉ là một vị linh thần như một số người hiểu lầm dưới một khía-cạnh đánh phạt tà-ma cứu nhân độ thế với uy hiệu là Đức Thánh Trần.
Theo một số dã sử, Ngài tuổi Mậu Tý (1228 TL) sanh ngày 30 tháng chạp giờ Ngọ, Qui thần ngày 20-8 năm Canh Tí (1300 Tl) hưởng thọ 72 tuổi.
Tuổi Mậu Tí thân mệnh đồng cung tại Mùi vô chính Diệu là vị trí của người đã chấp nhận với định mệnh lấy đức nhân hậu làm chủ đích dầu thân phận có phải hy sinh cũng không ngại.Vì thế đương số mới ghi được câu nói bất hủ : Nếu bệ hạ muốn hàng Mông Cổ xin trước hãy chém đầu tôi đi đã rồi sau sẽ hàng cũng không muộn”. Ăn nhịp với câu cứng cỏi bất khuất của thái sư Trần Thủ Độ: “Đần thần chưa rơi xuống đất thì xin bệ Hạ đừng lo”.
Người vô chính diệu Hỏa mệnh đắc Tuần câu hút Nhật-Nguyệt tịnh minh Mão Hợi phải nói là cách Vô chính Diệu tuyệt hảo, một sự thông minh quán chúng, một đức độ chính đính sánh với trời cao đất rộng ( Song Long Quan Phúc), còn Hồng Việt Tả Hữu Khoa Quyền một khả năng văn võ toàn tài quyền uy đúng mức.
Đây có phải là một vị Thiên Tướng xuống trần như dã sử đã nói : lúc có mang An-Sinh Vương phu nhân nằm mơ thấy thiên thần xin đầu thai, đến lúc sinh ra Vương có hào quang mùi thơm ngào ngạt. Lên 6 tuổi đã biết làm thơ và hay bày chơi đồ bát trận (Nam Hải Dị Nhân của Phan kế Bính).
Lòng chính đính của Vương ngay cả ở bộ tinh đẩu giáp 2 bên Mệnh Thai, Tọa, Quang, Quí phá tan cả nghi vấn Tử-Phá là hoản cảnh bất hạnh Vương phải gánh chịu một trong hai điều bất trung hay bất hiếu. Vì nhà Trần theo sử liệu, có sự lỉnh kỉnh trong hoàng hoàng tộc nên khi Đức Ông An-Sinh Vương-Liễu lúc sắp qua đời có trối chăng cho Vương là phải giải hận cho Ông. Nên lúc phò xa-giá Nhân-Tôn chạy loạn vào Thanh-Hóa, Vương phải bẽ mũi gươm ở tay để tránh điều nghi kỵ, và tỏ lòng trung thành minh bạch của Vương như đôi vừng nhật nguyệt ở số định, tưởng sự chân thành này không còn bút nào tả hết, và công nghiệp vang dội cũng không biết nói thế nào cho đủ với Tuần của Hỏa mệnh.
Đem so sánh với số vô chính diệu của Lê-Thái-Tổ khi mệnh đắc Bạch Hổ cư Dậu, lá số của vị đại đế cứu quốc cũng được Nhật Nguyệt ở Sữu chiếu lên.Người tuổi Sửu đứng ở Dậu là cái thế của người làm việc chính-nghĩa, Kim mệnh đóng Kim cung ở thế Kim, đối phương ở mão (Mộc) khó mà ở yên không thể không bị khắc chế. Nếu thêm tuần thì lại giảm uy danh của Bạch Hổ độc thủ, tuy là câu hút được Nhật Nguyệt dễ dàng, vậy không nên quan niệm tính ở “Không” mà định giá trị của số Vô chính Diệu.
Đại đế Lê-Thái-Tổ với Bạch Hổ ở Dậu mệnh Kim được Nhật Nguyệt ở Sửu, binh quyền ở Tỵ đủ cái nghĩa một vị Đại-Đế anh hùng thời cuộc. Còn Hưng-Dạo-Vương vô chính Diệu không có nòng cốt một sát tinh đắc địa hợp mệnh của tuổi Hỏa, phải mượn thế Thái Dương nhờ Tuần thâu hút, dầu Tuần là Hỏa, cũng là một số đắc cách. Nhưng được tuần lôi kéo Nhật Nguyệt nhất là Nhật ở Mão, Nguyệt ở Hợi là vị trí tuyệt phẩm của thông minh sáng suốt hơn hẳn bất cứ vị trí nào của bộ Âm-Dương. Huống chi bồi thêm Tả hữu Hồng Việt Khoa Quyền dư tài làm một vị nguyên soái thông văn đạt võ điều khiển thiên binh vạn mã. Chỉ hiền vị trí ở Mùi là luôn luôn ở thế bị động chỉ tìm cách chống đỡ (Mộc) thế công ở Sửu (Kim). Đối phương từ Đồng cự đền Hà sát, Kiếp Không, Toái Kỵ, một đòan quân từ cấp chỉ huy đến ba quân chỉ biết đem giải khắp đó đây sự khủng khiếp mạnh ai nấy vơ vét, rồi ra cũng chẳng nên trò trống gì ở vị trí Thiên KHông chính vị ( Thìn Tuất Sửu Mùi).
Quân Nguyên bắt đầu khởi hấn đem quân sang xâm chiếm vào tháng 10 năm Quí Mùi (1283) cho đến trận thất bại cuối cùng ở Bạch Đằng-Giang vào tháng 3 năm Mậu Tí(1288) tức là giai đọan Hưng Đạo Vương đi vào cung Tí (56-65) nghĩa là giai đọan thắng thế nhất thời của Vương ở thế chính Thái Tuế, chứ bộ Sát Phá Tham này chẳng có gì là tốt đẹp (hãm địa) quân thần tả sứ thiếu be bét, được một Linh(Thìn) phụ tá cho cấp chỉ Huy mặt trận Tham Lang là hợp cách, còn Thất Sát, Phá Quân như là chịu trận không một chút khả năng nâng đỡ, hèn chi Vương phải mấy phen phò giá rời bỏ Long thành.
Đứng về phương diện số, trường hợp vô chính diệu như hai lá số của Lê-Thái-Tổ và Hưng Đạo Vương phải kể là 2 trường hợp đắc cách nhất. Một đằng tuổi Kim đắc sát tinh đắc địa thủ mệnh, một đằng Hỏa mệnh đắc Tuần thâu hút Âm Dương là hai kiểu điển hình xếp theo thứ tự giá trị. Dĩ nhiên hai số này phải sắp xếp sau số của Đại Đế Quang Trung, Tuổi Nhâm Thân(Kim), mệnh đóng ở Thân (thái tuế) có Thất Sát thủ mệnh (kim). Nguyên một chi tiết nhỏ đó cũng đủ thấy một vị anh hùng không biết cái thua là gì.
Xét về công nghiệp thì Đại Vương Quốc Tuấn với cái thân thế là một danh thần phải kể là quá lớn lao đối với Tổ quốc dân tộc thì ngàn thu hương khói, chỗ linh địa Vạn kiếp cũng là rất xứng đáng với lòng dân thờ kính, tuy vậy vẫn còn lả thiệt thòi, so sánh với 2 vị Đại đế, phải chăng là ở vị trí Long đức, định mệnh đã đặt để
Âm lịch năm Mậu Tí tháng 12 ngày 30 giờ Ngọ
Dương lịch ngày 28 tháng 1 năm 1949 giờ ngọ

phanthaianh
03-05-2007, 05:58 PM
tình nghĩa giữa
QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ
Với LA SƠN PHU TỬ

Làm người việt-nam khi đọc lịch sử cận đại, hẳn phải hân hoan hãnh diện với chiến công oai hùng của Dại Đế Quang Trung ở đầu năm Kỷ-Dậu 1789. Ngài coi 20 vạn quân Thanh như loài chuột nhắt, muốn bắt lúc nào nên lúc đó. Người dân Hán tộc sợ oai người chiến thắng đến nỗi ở bên kia biên giới xa cách hàng 2,3 mươi dặm không một bóng người vãng lai.
Thật là oai hùng, oanh liệt quá chừng!
Để tỏ lòng biết ơn đấng anh hùng dân tộc, tôi đã cố công tìm tòi trong các sách báo thư viện, thật khó được biết ngày tháng sanh của Ngài. Tình cờ trong một cuộc làm ăn ở Quy Nhơn, được tiếp xúc với 1 vị bô lão ở Bình Định. Vị này cho biết đây chỉ là truyền khẩu, chứ không có sách vở nào còn ghi được, vì bị hủy diệt tất cả các di tích đến cả sanh-mạng con cháu xa gần dưới thời Gia-Long (thật là tàn ác).
Truyền khẩu lời nọ qua lời kia cứ đến ngày 5 tháng 5 vào giờ Tuất, thờ cúng âm thầm ngày sanh nhật của Ngài. Tính theo năm sanh từ 1752 đến 1792 tức là tuổi Nhâm Thân, Ngài thọ được 40 tuổi.
Lập xong số của Ngài, tôi cho có lẽ là đúng, tinh thần thấy phấn khởi như được giao cảm với tinh-anh bất tuyệt của đấng quân vương.
Mệnh đóng ở cung Thân Thất-Sát triều đẩu, xung chiếu tử vi +Thiên Phủ, Hóa Quyền bị Triệt. Có phải nghênh ngang một cõi sơn-hà coi vua tôi nhà Thanh như không có ký nào phải không?
Thân cư Thìn Tham Lang độc cư hợp với Phá Quân (cung Quan) ở Tí một bộ hung tinh đắc địa + Tả Hữu, Hóa Khoa, Thái Tuế, Bạch Hổ, Tấu Thư như thấy rõ lời phát thanh như tiếng chuông đồng, tiến quân như vũ-bão, tài thiện chiến như không người đối thủ. Ngòi bút của kẻ thường dân không biết làm cách nào để tả hết cái chân giá trị vạn năng của đấng kiệt hiệt.
Phúc đức, cung Tuất, Vũ Khúc +Hóa kỵ ngộ Chế, người Kim mệnh được Thất Sát (Kim) làm nồng cốt lại thêm Vũ Khúc (Kim) ở Phúc đức phò tá +Hóa kỵ ngộ chế cho biết cái khả năng kiên quyết quá sự tưởng tượng của thế nhân, cái sự thành công vô bờ bến của đương số .
Tiếc rằng Phúc đức ngộ Tuần chận cứng, đại vận đến Thái Dương lạc hãm đắc Tuần.Ngài bách chiến bách thắng ở Tuần mà chầu về trời sớm, cũng vì Tuần.
Quang Trung đại đế gặp La Sơn Phu Tử, có khác gì Lưu bị gặp Khổng Minh. Tôi không có bão phụ giám sánh Phu tử La Sơn với Vạn Tuế Quân Sư Gia Cát vì trường hợp hai bên khác nhau. Một đằng đứng ở cái ưu thế mà thấ bại, còn một đằng biết thất bại thôi đành chịu là của La Sơn Phu Tử.
Học giả Hòang Xuân HÃn cho biết Phu Tử sanh năm Quý Mão ngày 25 tháng 8 giờ Thìn.
Mệnh lập tại Tị mắc Tuần, thân an tại sửu bị Triệt tức là số của người mệnh Tang môn thân Điếu Khách. Rõ ràng là người mệnh trái số từ định mệnh đến chí phấn đấu.
Vốn sẵn thông minh, nhưng nghị lực nhiều khi như muốn thối chí, Phu tử biết rành nghề phong thủy lại thêm sở trường về nhâm độn (Cơ Riêu) cụ thành ẩn sĩ là thức thời (Cô Quả).
Phải nói Phu tử là người biết có trời và có ta (tri thiên mệnh)

Quang –Trung Đại Đế thỉnh La-Sơn Phu Tử ba lần, cải ba lần cụ đều từ chối, phải chăng, Phu tử đã biết đời mình cũng chẳng ra sao, mà sự nghiệp Đại Đế cũng không lâu dài gì.
Nhưng sau cảm thấy tấm thịnh tình thành thật của người đã biết mình mà cái người đó lại là một ông tướng vạn năng luôn luôn khiêm tốn kính trọng, Phu tử có dâng biểu xin bàn về ba điều:
1.Quân đức: xin lấy đạo thánh hiền mà trị nước)
2. Dân tâm: Nên dùng nhân chính để phủ dụ dân
3. Học pháp: giữ gìn nhân tâm thể đạo bằng học hiệu
Khi Gia Long thống nhất đất nước có mời cụ. Nhưng thân đã trót bán cho Quang Trung, còn duyên gì với Gia Long. Thân đã qui Tào còn tiếc gì trở lại với Lưu Huyền Đức. Phu Tử xin cáo từ viện lẽ tuổi già sức yếu.
Cao cả thay cái tiết tháo của người nhân sĩ nho gia và cũng đáng phục thay cho đấng quân vương biết chiều hiền kính sĩ
Âm lịch : năm Nhâm Thân ngày 05 tháng 05 giờ Tuất
Dương lịch : năm 1932 tháng 06 ngày 08 giờ Tuất

phanthaianh
05-05-2007, 03:53 AM
Lê thái tổ
Một vị đế vương mệnh vô chính diệu
Thái tổ khởi nghĩa tại đất Lam-Sơn (Thanh-Hóa) ròng rã 10 năm đánh quân minh sau 13 năm đô hộ, khai sáng cho một triều đại gần 4 thế kỷ (360 năm). Ngài trị vì được 6 năm và thọ có 49 tuổi (50 tuổi là lão, 49 tuổi là yểu).
Nói đến triều đại và công nghiệp của Thái Tổ, ai ai cũng phải công nhận là 1 triều đại chính thống có công đuổi xâm lăng lấy lại độc lập cho giang sơn đất nước. Sau này bao lần vật đổi sao dời hết Nguyễn đến Trịnh, rồi sau đến Tây Sơn vẫn lấy danh nghĩa là phù lê diệt tặc (Nguyễn Huy Trịnh).
Vậy thời lá số của Ngài hẳn là đặc biệt, mà đặc biệt thật : Ngài tuổi ất sửu, sanh ngày 6 tháng 8 giờ Tí. Thân mệnh đồng cung tại dậu, vô chính Diệu, không có một không nào thủ mệnh hay chiếu.
Đây là 1 cái mệnh đặc biệt, tuy vô chính diệu nhưng quá là đắc chính diệu. Kim mệnh âm nam đắc Bạch Hổ Dậu cung cùng Phi Liêm, phượng các, giải thần đủ tư cách một nhà đại ái quốc, đại anh hùng cứu quốc, cắn răng chiến đấu, hăm hở dũng mãnh vô cùng.
Đối cung cự cơ, Lộc tồn, Hóa lộc là cả một cái thế cai trị độc đóan thực dân bóc lột vững như thành đồng vách sắt. Nhưng nhìn vào cái thế cờ, Thái tổ tuy là yếu, vẫn ở cái thế lợi là Kim khắc mộc với bộ tứ hóa, mỗi vị trí đều có cái đắc dụng riêng như Khoa ở Ách (tử tướng ngộ hình đắc khoa khả giải), kỵ ở quan ( nhật nguyệt đắc địa, Thanh Long, đắc địa Hóa Kỵ).
Trong 10 năm tranh đấu, tám năm ở cung ngọ bị khắc nhập cả thời gian lẫn không gian rất nên nguy khốn vô cùng. May là người vô chính diệu gặp hạn Sát Phá Tham đắc địa nhưng đều bị kiềm chế hết thảy( Thất Sát ngộ triệt, Phá Quân ngộ Tuần, Tham Lang ngộ Thiên Không) nên cứ cù cưa và phải chịu đựng sự gian lao, chờ cơ hội thuận lợi.
Phải chờ qua đại vận ở Tỵ cung và cũng phải đến 2 năm sau mới thành công và ở ngôi được 6 năm đến năm 49 tuổi là băng hà.
Tam Hóa liên châu ở Thìn phài công nhận là quý, là tấm bào quốc huân chương cho người được cái hãnh diện mang nó đang đứng ở chỗ thanh thiên bạch nhật, ở Ách cùng với Khoa giáp Quyền Lộc đã cứu Vương bao nhiêu lần, nhất là trận bị bao vây ở Chí Linh tháng tư năm Mậu Tuất hết lối thoát, nhờ có ông Lê Lai đổi áo Vương mới trốn được.
Thiên Đồng là phúc tinh đóng ở Phúc đức là đúng cách, nhưng tại sao lại bị Tuần làm giảm cả bộ tướng ấn. Nó là một uẩn khúc của Thái Tổ nhà Lê sau 10 năm chinh chiến, không muốn kéo dài cuộc can-qua, sai sứ sang Tàu cầu phong, nhưng vua nhà Minh không chịu, cứ bắt phải để con cháu nhà Trần làm vua nuớc nam mới được. Năm lần bảy lược sự quy lụy đó đủ giáng cho thấy là Thiên Đồng, Tướng ấn bị Tuần là thứ cách.
Có phải là cái nghiệp của những nhà khai sáng cho mỗi triều đại, sau khi đã bình định xong đất nước cứ hay làm hại công thần, những người đã cùng mình vào sanh ra tử nằm gai đếm mật, để đưa mình lên 1 địa vị tôt đỉnh cao sang.
Vua Lê lợi cũng không thoát khỏi cái nghi ngờ quang siên ấy, nên đã giết oan hại ông Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo chỉ vì sự gièm pha của phường mua rối. Có lẽ đó cũng là luật bù trừ của cán cân công lý thiêng liêng nên ngài phải chịu mất sớm một năm trước khi đến cõi thọ.
Năm Ất Sửu ngày 06 tháng 08 giờ Tí
Năm 1985 ngày 20 tháng 9 giờ tí

phanthaianh
05-05-2007, 10:14 PM
Nỗi lòng cụ
Phan Thanh Giản

Cụ Phan Thanh Giản là một nhân vật của lịch sử. Cuộc đời cụ từ lúc tay buông suôi cho đến nay đã có nhiều tùy theo thời cuộc, công luận ca ngợi cũng lắm và chê bai không phải là không có.
Giữa lúc con cháu xúm quanh cái thây ma than khóc là chính lúc ở giữa triều đình nhà Nguyễn nghị luận về tội trạng của người để mất ba tỉnh miền Tây Nam- phần bằng cái án không được tốt đẹp : tước bỏ chức vị, đục bỏ tên trong bia hàng tiến sĩ (1867). Rồi 19 năm sau (1886) vua Đồng Khánh lên ngôi lại cùng triều thần xét lại cho là cụ không tội, phục chức cũ và dựng bia tiến sĩ lại. Đến nay biết bao cuộc biến đổi mà nghệ thuật phê bình cũng lắm đổi thay.
Đứng trước một vụ án danh dự, thiết tưởng bản số của cụ là chiếc phóng ảnh trong hay đục là trách vụ của những ai thông hiểu nên đem ra phân tách giúp lịch sử rộng đường phán quyết.
Mới đây có một vị độc giả Khoa Học Huyền Bí ở Vĩnh Long cho biết cụ Phan Thanh Giản sanh năm Bính Thìn (1976) ngày 12 tháng 10 giờ Tỵ. Ông mong rằng số có thể soi tỏ nỗi lòng của người đã khuất cách đây trên khoảng 100 năm. Vì là vụ án lịch sử, cũng xin mạo muội gọi là tiếp tay cùng vị nào đó.
Nhận thấy mệnh ở Ngọ và thân ở Thìn là hai vị- trí có thể nói là tương phản, là nỗi lòng của người yêu nước, lo dân mà phải bó tay trước định mệnh, Thất Sát( mệnh) ở Ngọ là vị hung tinh đắc địa có bầy tôi trung thành là thiên hình kề cận, bộc lộ tính cách 1 danh nhân không bao giờ từ nan, một sự khó khăn giám cản ngăn, giám can thiệp mọi sự việc trên bước đường đời mệnh danh là quốc tế dân sinh không có công ích. Tử Tướng (thân) bị triệt là cách của Tử vi chiến đấu bị thất bại. Nhưng ở đây lại khác, Tử tướng mắc La võng (Đà La, Địa Kiếp) phải có triệt tháo gỡ, cố chiến đấu cũng chỉ là vô vọng( Tử- Tướng vẫn ở thế bị Triệt) chỉ được cái tiếng là người làm việc cho chính ghĩa ( thái Tuế).
Từ bộ Sát Phá Tham đắc địa có sát tinh phò trợ đến bộ Tử Phủ Vũ Tướng bị cả Triệt lẫn Tuần đủ nghĩa là định mệnh chỉ cho phép cụ thành danh gánh vác việc đời mà không cho phép cụ được hài lòng (Tang môn) với chính nghĩa mình phục vụ. Ở đây (mệnh) được tinh đẩu mất vị trí, Thân được vị trí hỏng tinh đẩu. Thật là định mệnh khắt khe, chứ bản tâm là người có thừa thiện chí với trách nhiệm nghĩa vụ thì hiển nhiên không thể căn cứ thành quả mà kết án được. Tại sao cả một nước yếu kém không kình chống lại cuộc xâm lăng, lại đi buộc tội một ông già chân yếu tay mềm để mất đất?
Cái thế tam hợp mệnh là cái thế của người lo toan triền miên (Tang môn) với Thất Sát, Thiên Hình anh hùng bao nhiêu thì Kình-Lực đem lại hậu quả vô vọng bấy nhiêu. Tham lang, Đại hao (đắc địa) càng trổ tài thu vén bao nhiêu thì Mã Khốc Khách, Tuyệt càng đầy ải thân thế bấy nhiêu, đến quan cung lưỡng phá ( Phá Quân, Tuế Phá) biết bao là hùng tráng, cứng cổ cũng không phải là lý do để mấy ông mão cao bào tía ngồi tán láo bẻ hành bẻ tỏi cho là phản-trắc tự ý nhượng đất cho quân cướp nước, Thử hỏi người Thổ mệnh thân lại đóng ở Thái Tuế có thể nào hành động của phường Phá Quân ở Tuất, huống chi Phá Quân ở đây đã bị Thiên tài lột xát mất rồi, chung qui chỉ là oan-nghiệp (Hình riêu không kiếp) cụ đã vướng phải, nên phải hứng chịu.
Cụ Phan Thanh Giản được 2 giai đọan (24-33) và (64-73) là hai cung thân và Tí. Đậu tiến sĩ độc nhất danh dự cho miền nam năm cụ 29 tuổi, rồi 5 năm sau chìm nổi trong biển họan thăng giáng không ngừng xét ra chỉ vì Thất Sát Thiên Hình là bản tính của người cương nghị, không thể làm ngơ, không lời ngăn cản ngay cả với vị chúa tể quốc gia, như trường hợp ngăn cản vua Minh Mạng năm 1836 muốn tuần du Ngũ Hành Sơn lúc dân chúng đang lo cày cấy, đem lại cho cụ sau này bị biếm chức thành một thuộc viên lo công việc quét dọn bàn ghế ở công đường ngay chỗ cụ đang nhậm chức. Đời cụ tính ra có đến 04 lần bị giáng chức chỉ vì Hình Sát giám ăn nói, giám can thiệp bất cứ việc gì, bất kể là đối chọi với ai, và cũng vì Kình Lực mà công lao đến đâu cũng hầu như không được nhắc đến, và cũng vì Tử Tướng bị Triệt cuộc đời lao đao như người bại trận.
Đáo vận 64-73 là giai đọan chót cuộc đời, người tuổi Thìn đi đến tí là một điều hay, Thân bị Triệt đến đây đắc Tuần là cách mở lối dương danh tuần tự tiến bước từ chức Thượng-Thơ Hình Bộ sung cơ Mật Viện và Tòan Quyền Phó Sứ Kinh Lược Nam Kỳ, Tổng Đốc Gia Định rồi Vĩnh Long cho đến ngày về Thần.
Là người của lịch sử trải qua ba đời vua Minh Mạng, thiệu Trị, tự Đức, Cụ Phan Thanh Giản dĩ nhiên là người thấu đáo những gì từ cái yếu kém của Tổ Quốc đến cái hùng mạnh của kẻ xâm lăng, từ cái lo cho dân được ấm no đến cái mềm dẻo ngoại giao cho đất nước đỡ tàn hại vì chiến bại, thiết tưởng người cầm bút phẩm bình phải có công tâm thấu hiểu những gì ngô bí của bị can. Công tố viên phải là một người có một nghệ thuật sâu rộng, một tâm hồn trong sạch, một cái vốn khá đầy đủ về sử học biết đặt địa vị mình trong hòan cảnh người lịch sử. Đổ tội cho ông già đáng lẽ được hưởng cảnh điền viên chờ ngày xuống lỗ, mà phải cáng đáng việc lấp biển vá trời. Huống chi trách vụ phải đảm nhiệm, đảm nhiệm để mà chết thì còn gì cao đẹp, cảm động thiết tha hơn nũa trước khi chết còn trối chăng con cháu sau này không được hưởng thụ một đặc ân gì của kẻ cướp, mà vẫn giữ được hòa khí với họ cho dân đỡ lầm than, cho nước có thời gian tính toán liệu thế ngăn cản ngọai xâm.
Ta rõ cái chết của cụ Phan để tỏ lòng trung với nước, mà vẫn được người Pháp kính trọng là cái thế kẹt của Tử Tướng bị Triệt ở La võng, mà không từ chối nhiệm vụ gánh vác là hình Sát của người nặng lo (Tang môn) để rồi kết liễu cuộc đời can đảm bằng chén thuốc độc (Hóa Kỵ đặc biệt của tuổi Bính –Đinh). Nó hãnh diện hiển hách vạn lần tấm kim Khánh khắc 4 chữ Liêm, Bình,Cần,Cán” của vua Tự Đức ban khen lúc trấn Nhậm, Vậy người của lịch sử phải hứng chịu búa dìu lịch sử đẽo gọt, nhưng biết được uẩn khúc và trạng thái nêu ra, đó mới là lời vàng nét ngọc đáng ghi vào sử học.
Bính Thìn ngày 12 tháng 10 giờ Tỵ
1976 ngày 2 tháng 12 giờ Tỵ

phanthaianh
11-05-2007, 08:07 PM
Uy vũ bất khuất của
Cụ PHAN CHÂU TRINH

Nói đến cụ Phan Châu Trinh thì bất cứ người Việt Nam nào, dầu là hạng người nào cũng đều như có ý nghiêng đầu kính trọng. Kính trọng không phải là ở oai ông Nghe Phó Bảng, dầu cho có liên trúng tam nguyên như cụ Yên – Đổ cũng chỉ là phần nào, mà là ở cái Phan Chu Trinh bất khuất, uy vũ.
Năm 1946 trong một câu chuyện về thời cuộc, cụ Hùynh Thúc Kháng đi kinh lý có nhắc đến cụ Tây Hồ và cụ có cho biết cụ Tây Hồ sanh năm Nhâm Thân ngày 03 tháng 08 giờ Dậu.
Nhìn vào cung mệnh của cụ đóng ở cung Tý thấy ngay là 1 nhà ái quốc. Một người yêu nước lao đao tranh đấu đến cùng dầu là ở hoàn cảnh nào, nếu là cô đơn độc mà cũng không lùi ( tuổi Nhâm Thân có phá Quân cư Tí thủ mệnh). Cái hay là Phá Quân cư Tí kìm kìm hãm được Kình dương, trái lại kình dương phải phò tá cho Phá Quân thêm Xương Khúc, Thai Tọa ( văn mà võ, võ mà văn). Thật là cứng đầu, cứng cổ chỉ biết có lẽ phải, có non sông là trọng.
Liêm trinh, Thiên Tướng cư (Thân) ở cung Ngọ tả rõ một đời cách mạng bất mãn chính đại quang minh, nhưng hết kế khả thi chỉ còn biết đả kích bằng lời nói, mà đã kích thật dữ (Điếu Khách + Tử). Lập luận đúng lý bất kể là ở nơi nào, khi còn ở trong nước bài “ Đầu Pháp chính phủ thư” lúc ở ngục Santé ở Pháp lá thơ phản đối tòa án binh ghép tội thông đồng với giặc Đức cho đến bài “Thất Điều” buộc tội vua Khải Định làm nhục quốc thể ở nơi kỳ hội chợ Marseille năm 1922. Phải chăng là cái gan lì bất khuất của Phá Kình cư Tí.
Cung Quan Lộc của cụ là cả 1 vấn đề. Tham Lang (Vượng địa) Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư nếu muốn xuất chính làm quan tưởng dễ dàng như trở bàn tay. Nhưng thân thế là thân thế của người bất mãn, thêm phúc đức “Tử vi-Thiên Phủ, Mã, Quyền ngộ Triệt” thì còn gì là oai vệ lên xe xuống ngựa với Quyền hành hách dịch. Nghịch lại Tham Lang ngộ Hình Kỵ, Bạch Hổ, đường PHù thì lại làm nghề ở tù nhưng tù chúa, tù cha thiên hạ.
Lúc ở Côn LÔn ở tù mà được ở nhà ngoài, không ăn cơm tù, không làm việc của tội nhân (theo cụ Huỳnh thuật lại) cho nên khi về an-trí tại Mỹ Tho cụ thấy cái cảnh giam lỏng lại đòi đi ở tù Côn Lôn, nếu không thì phải cho đi qua PHáp. Qua pháp mà nào có yên đâu, cũng phải 10 tháng trong ngục Santé. Nghĩ thật là làm nghề ở tù, nhưng không hề bị hành hạ mà còn giảm kình chống với chủ ngục bằng tài hùng biện lý luận lỗi lạc (Tuế, Hổ,Phù,Xương,Khúc).
Trình bày cái bất khuất của cụ Phan Châu Trinh bằng số tử vi trên đây, lòng không khỏi bùi ngùi tưởng nhớ năm 1926 cùng các bạn học sinh, sinh viên khắp Trung-Nam-bắc, đều 1 lòng đeo băng tan làm lễ truy điệu cái tinh thần ái quốc, tận tụy hy sinh cả một đời, cho đến khi gần nhắm mắt còn có câu :
“Xin các ông d8ừng mong gì ở tôi, nay tôi sắp chết, việc nước là việc chung của toàn thể quốc dân, người này trông ở người khác làm sao được”
Phải chăng lời nói bất hủ đó đã treo cao tấm gương thúc đẩy đồng bào phải tự lực, tự tôn của một nhà đại ái quốc.
Nhâm Thân Ngày 03 tháng 08 giờ Dậu
Dương lịch 1932 ngày 03 tháng 09 giờ Dậu

phanthaianh
11-05-2007, 08:08 PM
Một nhà đại văn hào cách mạng là cụ
PHAN BỘI CHÂU

Lòng kính ngưỡng của đồng bào đối với cụ Phan Bội Châu từ trước tới nay như một tôn giáo. Năm 1925 ngày cụ bị bắt và bị kết án tử hình thì lòng sôi nổi của Quốc dân việt nam, nhất là thanh niên sinh viên cho đến nho gia sĩ giới như đối đầu hẳn trước thực dân xâm lược. Viên toàn quyền Varenne phải khéo léo mượn danh nghĩa đảng viên xã hội Pháp ký quyết định ân xá cho cụ để làm dịu bớt lòng phẫn nộ của toàn dân đã đặt hết tín nhiệm như bất diệt, như khinh thường mọi hiểm nguy, ngay cả bọn bán rẻ lương tâm cũng không giám mộ lời ngụy biện.
Cụ sanh năm Đinh Mão(1867) ngày 11 tháng 05 giờ Sửu.
Cũng như cụ Phan Khắc Sửu, mệnh cụ Phan Bội Châu đóng ngay ở thế bất mãn, lòng đã sớm băn khoăn việc nước, việc đời, tình non sông nghĩa đồng bào, Sào Nam tiên sanh hành động minh bạch như đôi vầng Nhật Nguyệt sáng lạng phi thường ở trong bản số (Thái Dương ở Hợi đắc Tuần, Thái Âm ỡ Mão đắc Triệt.
Tuổi Đinh Mão mà gặp Cự Môn, Hóa Kỵ thủ mệnh là cái thế nguy nan của người có số, nhưng còn nhiều nợ đời phải trải nên hóa công đặt cho cái thế quân bình về mạng sống ở Tỵ cung nên cụ trải qua bao sự nguy khốn mà vẫn trường tồn cùng tổ quốc đến 74 tuổi.
Thân đắc Thiên Lương ở Mùi là cái cách của nho gia quân tử (giáp tả hữu, Thai Tọa) cứng đầu bất khuất thông minh quán chúng( Âm Dương lạc hãm thọ đắc Tuần Triệt) đó có phải là sĩ khí cùa dòng dõi đời nhà tiên sinh từ cụ Phan văn Phổ thân sinh ra cụ (Phúc Đức).
Cụ nổi tiếng văn hay chữ tốt đậu đầu xứ Nghệ An, rồi Giải Nguyên văn chương cả 4 kỳ thi đều được phê ưu hạng (Riêu, Xương, Mộc Khúc, Khoa, Việt) nhưng với nhà cách mạng nặng lòng vì nước vì dân cụ cho là hư văn. Dù sao cũng nhờ cái đã hư văn đó để cụ thành danh viết Lưu Cầu Huyết Lệ Thư cảnh tỉnh quôc dân, rồi cụ sọan tác phẩm khuyên thanh niên du học lúc cụ ở Trung Hoa gửi về nước vận động cho thanh niên sang Nhật.
“Việt Nam Vong Quốc Sử” là một cuốn sử tuyệt phẩm đặt cụ Sào Nam vào địa vị một đại văn hào cách mạng, kể hết nguyên nhân về nạn quốc phá gia vong, những anh hùng liệt sĩ, những chính sách bóc lột của thực dân được Lương Khải Siêu tiên sinh, một danh sĩ Trung Quốc viết lời giới thiệu với đồng bào của tiên sinh biết cái thảm cảnh của Việt nam đang diễn chuyển.
Đời cụ phiêu lưu mai đây mai đó bắt đầu từ năm 1904 tức 37 tuổi, 20 năm dòng dã cụ sáng tác rất nhiều văn phẩm về tài liệu cách mạng cũng như về văn học dịch học.
Sau việt nam Vong quốc sử đến “Ngục Trung Thư” là một tập văn cụ viết trong ngục Quảng Châu khi bị Long Tế Quang bắt định bán cho Pháp, gây ra một mối xúc động lớn cho toàn thể quốc dân và cũng tạo cho cụ một cái thế mạnh vô biên sau này ngăn cản kẻ xâm lăng hành quyết cụ lúc cụ bị giải từ Hàng Châu về Hà Nội (Cơ_Lương ngộ Hình đắc Khoa).
Trên dòng Hương Thủy ngắm cảnh non Bình gần 20 năm cụ bị an Trí coi chừng, nhưng lòng dạ vẫn khôn nguôi nỗi mình nỗi nước :
Sinh rằng từ thuở tương tri
Tấm thân vốn sẵn nặng vì nước non
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phài dò cho đến ngọn nguồn đáy sông.
Là những câu thường ngày cụ già bến ngự hay ngân nga hồi tưởng những lúc chim bằng vẫy cánh tung bay khắp trời Đông Á cất tiếng kêu thương, nhắn nhủ những ai nơi viễn phương hãy thật trọng trong bước đường cứu nước.
Cuối năm 1939 thế chiến th71 II phát khởi cũng là năm cụ 73, mình già sức yếu, biết rằng thời của mình 10 năm đã trôi qua mất quá nửa, cái hoài bão của Khương Thài Công ngồi câu ở Thạch Bàn sơn mong chờ một Chu ăn Chương vẫn một ngày vắng bóng.
Cái thời của Sào Nam tiên sinh là cái thời của Quốc TRưởng Phan KHắc Sửu cho đến Cựu Hoàng Bảo Đại cũng trong cáo thế bình thản với cái vinh dự về tinh thần nhiều hơn là đắc thế. Mệnh cụ bị đặt trong cái thế hắc ám bất mãn, nhờ ở thế quân bình thủy hỏa mà tồn tại, cụ phản ứngbằng cái thân ở Phúc Đức của một chính danh quân tử thông minh quán chúng, nghị lực bẩm sinh ta đã thọ đắc ngay lúc ra đời nên 1 đời trôi nổi nhiều khi một thân một mình nơi đất khách, tử thần sát nách, vẫn một dạ trung kiên, phấn đấu không lùi. Ngày 29 tháng 9 năm Canh Thìn (1940) để lại cho toàn dân việt nam một lòng kính ngưỡng, bùi ngùi nhớ tiếc. Cụ Phan Bội Châu ra đi để lại cho thư viện quốc gia một số văn phẩm có thể nói là quá nhiều đối với đời phiêu lưu của một nhà đại cách mạng.
Xin trân trọng cúi đầu thành kính trước anh linh vị đại văn hào cách mạng việt nam.
Đinh Mão ngày 11 tháng 05 giờ Sửu
Dương lịch 1927 ngày 10 tháng 06 giờ Sửu

phanthaianh
14-05-2007, 01:48 AM
Đây có phải hình ảnh
Cố liệt- sĩ lãnh tụ
Nguyễn Thái Học

Mùa Thu 1948 hồi cư về hà nội, tôi được gặp 1 người bạn ở Đường Duy Tân (Phố Huế Cũ) gần ngay nhà thuốc ông Nhượng – Tống, một nhà văn sáng lập ra Nam- Đồng THư xã và là một đảng viên thân hữu của cố lãnh tụ Nguyễn thái học. Một dịp mai để tôi tìm biết ngày sanh tháng đẻ của vị thủ lãnh Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông Nhượng Tống cũng chỉ cho biết, theo cụ bà thân sinh ra ông Học có nói là sanh ông ra lúc tảng sáng, tuổi Đích Thực là Quý Mão và ông chỉ còn nhớ mài mại con số 13 trùng phùng với con số 13 liệt sĩ đã tử tiết ở Yên Bái.
Thật là cảnh người đi đường trường gặp cảnh sa mù dầy đặc, tôi cũng cứ ghi vào sổ tay chờ có dịp may nào tra cứu thêm. Năm ngoái tôi có đọc cuốn: Những mảnh gương Tân Việt” cũng ông Nhượng Tống biết thấy ghi ngày sanh ông Nguyễn Thái Học là 1-12-1902 và có chua thêm tuổi Quý Mão, đem đối chiếu sang ngày âm lịch thấy 13 tháng 10. Vậy có phải số của liệt sĩ đảng trưởng việt nam quốc dân đảng là tuổi quý Mão ngày 13 tháng 10 giờ Mão. Tôi mong rằng quý vị nào biết được chi tiết nào đích xác về 4 yếu tố năm tháng ngày giờ xin cho biết để góp thêm tài liệu cho lịch sử sau này.
Tuổi Quý Mão mệnh lập tại Thân, và Thân đóng tại Dần.
Vị trí của mệnh là vị trí của người thức thời sớm tinh khôn nhưng ở cái thế bị kẹt cứng, còn vị trí ở Thân là vị trí của người phải trực tiếp hy sinh đời sống cho công cuộc mình hành động.
Tử ci, Thiên Phủ tuy không phải là mình, nhưng nhờ cái thế sinh nhập không phải là không đắc lợi điểm, nên đương số phải là đủ tư cách một cách chánh nhân quân tử, một bậc đàn anh nhân hậu đầy đủ uy tín (Tướng, Ấn, Nguyệt Đức), gan lì (Tử). Tiếc rằng bộ Tử Phủ đắc địa thành ra người quân tử phải gian nan và nguy khốn nữa là khác. Thất Sát ở Dần mới chính là ông, một người bản tính thì nhu khi hành sự lại rất cương, nhiều mưu cơ can đảm thêm Hình ở Ngọ oai phong lẫm liệt như Thiên thần giáng thế. Ta phải hỡi ơi khóc than ở cái thân có Sát tọa thủ : đó là một cách yểu mà hóa công đã khuôn xếp từ Mệnh đến Thân nên ông không thể trường tồn được cùng với đất nước trong khi còn cần nhiều những trang thanh niên đầy chí khí nhiệt huyết như ông.
Tướng Ấn ngộ Tử ở Mệnh, Liêm Tướng, Lộc Tồn ngộ Triệt ở Quan, Vũ Khúc Thiên KHông ngộ Tuần ở Tài, có phải là một thủ lãnh, một đảng trưởng của 1 hội đảng chỉ có thể thành công trong vòng bí mật mà thôi.
Phúc cung rất đẹp với Song Long Riêu Kỵ ( có nghĩa ông thành nhân) ta phải cau mày bực bội ở cái suy Tham Lang, Riêu kỵ (không thành nhân), có lẽ ông đã tiên liệu trước nên thường phát xuất ra câu “Không thành công thì thành nhân” Trong cái thế tam hợp này ta phải để ý đến cung thê : Phá Quân ( Ngọ), Hình Riêu, Kiếp, Kỵ. Cái giây oan nghiệt đã cố kéo đến 1 người chắc không phải là bà Nguyễn thị Cửu một hiền phụ ông đã suy tính rất chu đáo phải ly dị trước khi ông lập đảng bí mật để khỏi phiền lụy đến bà sau này. Phá Quân ở đây là người tài giỏi gan góc với người tuổi Quý Mão Rất Tương đắc ( tương sinh), bất khuất hoạt bát ( PHá Quân +Hóa Lộc + Thiếu Âm) ở Ngọ) coi sự sống chết như giấc ngủ thường ngày, đây phải là bà Nguyễn thị Giang thường gọi là Cô Giang, một đồng chí tận trung với Đảng đã nhận một khẩu súng sáu và hứa “ Nếu chẳng may đảng trưởng chết vì nước thì Giang cũng xin chết theo chồng với khí giới này”.Về sau bà đã tự xử đúng như lời đã hứa.
Đời của liệt sĩ Nguyên Thái Học phải nói là người sớm giác ngộ (Đại vận 13-22) ở trong cái thế Thái Tuế, Thiên Khốc, Long Phượng Hổ Cái. Từ năm 1926 là lúc liệt sĩ 23 tuổi vận chuyển sang cung NGọ là thời gian bắt đầu hy sinh lo việc nước. Sau lần gặp viên toàn quyền Varenne ông thấy không thể nói miệng với thực dân, để rồi đi đến cuộc khởi nghỉa đêm mồng 9 tháng 2 năm 1930 ở Yên Bái bùng lên như 1 tiếng sấm đêm đông. Đại vận Sát Phá Tham đắc địa, tiếc rằng một Địa Kiếp, một Hỏa Tinh (đắc địa) bị lạc lõng trong cái cảnh người chỉ huy lại không phải là vị trực tiếp điều khiển binh chủng của mình như Phá không phải là chỉ huy của Hỏa, Sát với Địa Kiếp, Tham mắc tay với Kỵ, nên mặt trận chính là Phá Quân phải bất lực với Hỏa Tinh và thất bại trước Thiên Hình mà thọ khốn (Tuyệt). tính theo thiên thời và địa lợi, nhà liệt sĩ của ta đều ở cái thế bị sinh xuất ( thời gian) và khắc nhập (không gian).
Lòng thành thực kính phục những dị nhân liệt sĩ như Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh một lòng sắt đá vì nước vì dân, mỗi phú quý bã vinh hoa không sao lay chuyển như những tấm gương sáng ngời không bợn chút bụi trần hoen ố, kẻ hậu sinh chỉ còn biết bổn phận phải nêu cao tinh thần hy sinh phong phú, ý chí bất khuất hào hùng của người đã khuất.
Âm lịch năm Quý Mão ngày 13 tháng 10 giờ Mão
Dương lịch 1963 ngày 28 tháng 11 giờ Mão

phanthaianh
14-05-2007, 01:49 AM
Người ôm hận suốt đời là
Cụ Phan Khắc Sửu

“ Nhớ đến P42 thật là một cơn ác mộng, tôi mong rằng những hình ảnh giam cầm mọi rợ như thế từ nay không còn nữa “
Phan Khắc Sửu

Nhân sĩ miền Nam Việt Nam, nếu là người khó tính, đếm trên đầu ngón tay phải kể là có cụ Phan KHắc Sửu. Một ông già ốm o đầu bạc lại thêm đôi mắt cận thị, ấy thế mà gan cùng mình.
Theo người thân cận cụ cho biết cụ sanh ngày 7 tháng 5 giờ Mùi Tuổi Tân Sửu, Mệnh lập tại Hợi.
Nhìn vào thấy ngay là một người ở cái thế bất mãn, nghị lực ghê gớm. Phấn đấu hết lòng vì nước vì dân, chỉ biết có nói, nói ai nghe được thì nghe, không nghe thì đành chịu. Tài ba như Gia Cát Không Minh như biết nhà Hán sắp hết thời và công mình làm chỉ là việc ném bùn sang ao, cũng cố lòng phấn đấu vì tình nghĩa của Lưu Huyền Đức.
Tình của cụ Phan KHắc Sửu phải chăng là tình non sông mà nghĩa của cụ là nghĩa đông bào. Thân cư PHúc đức đóng ở Sửu đúng ở cái thế chính nghĩa minh bạch.
Tiếc rằng cụ không đủ tài ba ( Thiếu Tả hữu) chứ nghị lực có thừa ( Mã tràng sinh ở Hợi đắc Khoa).
Đời cụ chỉ trông vào có 1 chữ Tân cho nên Đồng Cự ở Sửu được cái thế Song Lộc, Long phượng, Hổ, Cái là phần vinh dự đền bù cho cụ chỉ được ở cái địa vị khiêm nhượng là một vị quốc trưởng Quyền, phù hợp với Nhật xuất ohú Tang bị nước biển Đông tràn ngập (Hóa Kỵ) ở cung Quan Lộc.
Kể về thời thì không thấy cụ đắc thời một lúc nào hết, họa chăng còn là giai đọan bạch diện thơ sanh, học hành được thành đạt với tấm bằng kỹ sư để giới thiệu với Quốc dân.
Còn lại suốt 30 năm tranh đấu vì nước vì dân tuyệt không một dấu vết gì gọi là hài lòng cho kẻ sĩ, giai đọan cuối cùng là giai đoạn hợp số nhất thì ôi thôi Tướng Ấn dính chùm cũng bị Tuần Triệt kẹp cứng Long phượng, hổcái, Khoa, Quyền, Lộc chỉ đem lại cái kết quả là tiễn đưa cụ bằng lễ quốc táng huy hoàng.
Cả nước thương tiếc cụ là một người có lòng với đất nước nhưng không có thời.
Cụ Phan Khắc Sửu cũng giống như Cựu Hoàg Bảo Đại được một cung thê là nổi bật. Một đằng đúng tư cách đầy đủ là một bà Hoàng hậu. Một đằng đủ tài ba một bài nội trợ,buôn đông bán tây, một thân một mình tần tảo lo cho đủ chi dụng của gia đình để cho cụ khỏi bận tâm vì sinh kế mà lo việc nước.
Ngày nay cụ ở Suối vàng, xin cụ phò hộ cho cụ Bà mạnh khỏe buôn may bán đắt. Việc nước, xin thưa cụ, đã có người khác.
Âm lịch năm Tân Sửu ngày 07 tháng 05 giờ Mùi
Dương lịch 1961 ngày 19 tháng 06 giờ Mùi

phanthaianh
17-05-2007, 08:55 PM
Nhà cách mạng
Nguyễn Hải Thần
Làm chính trị nhẹ dạ

Cụ Nguyễn Hải Thần tên thực là Vũ Hải Thu, người ta thường nhắc đến cụ với danh hiệu là cụ Tú Đại – Từ. Một chiến sĩ cách mạng ngót 50 năm tranh đấu cho chủ quyền quốc gia hết với thực dân ngoại xâm lại đến chánh quyền cộng sản chuyên chế.
Cụ tuổi Mậu Dần, sanh ngày 25 tháng 7 giờ Tuất, Mệnh lập tại Tuất, thân cư Ngọ cho ta thấy cụ là một nhà đại ái quốc. Thái Dương lạc hãm thủ mệnh hay cả tin. Với Tả Phù, Văn khúc, Tấu Thư, Hoa cái, cụ là người có tài về văn học, lại đi phụ tá cho bộ Cự Nhật nên cụ tốt nghiệp tại trường võ bị Hoàng Phố (Trung –Hoa) và sau vì quen biết với các nhà cách mạng Tôn-Dật-Tiên và Tưởng Giới Thạch mời cụ lãnh vai giáo sư chính trị tại trường này.
Cụ luôn luôn mạo hiểm với mưu trí của bậc anh hùng (Bạch Hổ + Kình dương) giám một mình tự tay ám sát viên toàn quyền Albert Sarraut tại trường thi Hương Nam Định và tự đảm chỉ huy công đồn Tà – Lùng Cao Bằng, nhưng không thành công, nhưng cũng thành danh, và cái danh hiệu Nhuyễn Hải Thần từ ngày đó thay hẳn cho cụ Tú Vũ Hải Thu chìm đắm trong đêm tối.
Một nhà ái quốc hăng say làm việc (Mệnh) như cụ có tài thao lược tính toán (Thân) cương quả và vẫn không thành công vì cái thế đối phương ở thế khắc nhập mà mình lại vắng bóng những cứu cánh để thành công (Khoa Quyền Lộc) so ra thấy chẳng hơn kém gì là bao, dầu là dưới thời trực thuộc thực dân hay chuyên quyền cộng sản :
Nội (Hỏa)
Thái Dương lạc hãm

Tả Phù
Hoa cái (chính nghĩa)

Ngoại (Thủy)
Thái Âm lạc hãm ngộ
Đà Đắc Khoa + Quyền

Hữu Bật
Tang Môn (ngụy quyền)
Cụ xuất dương theo cách mạng từ năm 26-27 tuổi nhưng tính về thời gian đắc cách của cụ phải là 42-51 cũng chỉ đem lại cái tên Nguyễn Hải Thần, một nhà đại cách mạng nổi danh (Thái Tuế, Hoa Cái, Bạch Hổ, Tấu Thư) mà vô Thực (Bệnh) phải luôn luôn lánh nạn sang nước người (Đại Hao) cho đến năm 1946 là giai đọan 62-71 về nước. Tuy gặp Khoa Quyền, Hữu Bật, Bát Tọa, Thai PHụ ở cái thế binh quyền phụ giúp, thật ra vẫn ở cái thế đối cục thêm Đà, Tang, Khốc phá rối nên cũng không thành cơm cháo gì, cụ đành đi luôn cho đến ngày mãn phần.
Với Bộ Âm Dương lạc hãm của cụ mà thầm trách hóa công trớ trêu sao đã sanh ra tuổi Mậu Dần lại bắt phải gặp Thái Dương ở chỗ lạc hãm, mà bộ sao này rất cần cho các nhà cách mạng để xét đoán công cuộc mà hành động, không thể mỗi việc tin người, không sáng suốt để đưa đến thất bại. Âu cũng là cơ trời đặt cụ vào cái khuôn làm nhà đại cách mạng mà không phát cho Quyền Lộc.
Có lẽ ám sát viên Toàn Quyền Sarraut và việc cầm quân công phá Tà Lùng cũng chỉ là vội tín. Người thổ mệnh gặp Thái Dương còn gì bằng, tiếc rằng lạc hãm không phù trợ được bao nhiêu, thành ra thất thế với một Thái Âm (Thìn) đắc Khoa Quyền ở cái thế thượng phong mà khắc chế. Thật ra Thái Âm Thìn cung ngộ Đà còn tồi tệ gấp bội Thái Dương ở Tuất với người Dương mệnh.
Năm 1945 quân đội Trung Hoa sang giải giới quân Nhật ở Hà Nội cho đến vĩ tuyến 16 là cơ hội rất thuận lợi cho các nhà cách mạng quốc gia đứng lên lập chánh quyền. Không hiểu sao với tư cách là chủ tịch Việt Nam cách mạng Đồng Minh Hội, cụ lại chần chờ quá tin ở Khâm sai Phan Kế Toại sẽ nhường quyền cho phe quốc gia với chánh nghĩa được đồng minh chấp thuận, để rồi phe đối phương phổng tay trên mất. Đến sau này quân Pháp đổ bộ ở Bắc việt, cụ Nguyễn Hải Thần vẫn cứ tin ở sự hợp tác của phe nghịch nên tham gia chánh phủ liên hiệp chống kẻ thù chung. Rốt cuộc phe quốc gia bị hãm vào cái thế lưỡng đầu thọ địch bị đào thải trước khi họ thanh toán nhau.
Tôi còn nhớ bài thơ của cụ Nguyễn Hải Thần gởi cho cụ Trần Trọng Kim năm 1946 sau khi chạy về Liễu Châu :
Bốn chục năm nay vì nước nòi
Nước nòi chưa mạnh quyết chưa thôi
Đà Long phất trận gươm ba tấc
Nam Định tương bom lửa một mồi
Cha đứa cắn gà cam cõng rắn
Mẹ thằng giầy mả dám đem voi
Nào ai mãnh sỉ mưu thần đó
Góp sức đun tay để cứu đời
(một cơn gió bụi của TTKim)
Cả cuộc đời của cụ Nguyễn Hải Thần chỉ là một chiến sĩ cách mạng có tâm huyết tranh đấu cho chính nghĩa quốc gia, và cũng rất tiếc cho những nhà cách mạng mà bị bộ Âm Dương lạc hãm như cụ Nguyễn Hải Thần.

Mậu Dần ngày 25 tháng 7 giờ Tuất.
1938 ngày 20 tháng 8 giờ Tuất

phanthaianh
17-05-2007, 08:56 PM
Một ông Thủ Tướng bất đắc dĩ
Cụ TRẦN TRỌNG KIM


Ngày tôi hãy còn là 1 học sinh trường tiểu học, cụ Trần Trọng Kim đã là một vị thanh tra học – chính Bắc Việt. Cụ là một nhân vật thành đạt do Tây học, mà cụ lại kính ông Khổng, trọng ông Mạnh hơn ai. Cứ xem bao nhiêu danh phẩm cụ trước tác ta thấy cụ chuyên tâm khảo cứu về sử học và cổ học Á Đông. Cụ Tuổi Quý Mùi sanh ngày 18 tháng 5 giờ Hợi.
Tuổi Mùi mệnh đóng ở Mùi là vị trí của người con dân đất nước, khuôn thiên đã dự liệu cho người này 1 cái trách nhiệm gì, trong một thời buổi nào đó phải có gì với núi sông. Tuy là vô chính diệu được Hoa cái ( Mộc ) là nòng cốt rồi, Cự Cơ ở Mão bồi đắp thêm thành một cái thế vững mạnh sáng tỏ của một danh nhân quân tử đứng trêm lập trường chính nghĩa quốc gia (Thái Tuế).
Cụ có đủ 1 bộ văn tinh làm học giả rất đúng cách, cái tài của cụ là cái chịu khó góp nhặt tìm tòi (Mã ở Thân, Tả Hữu giáp Mệnh), tiếc rằng bộ Âm Dương của cụ chỉ là phảnảnh mượn, không được ở Mão và Hợi chiếu lên, nên sự thành danh hay sáng suốt của cụ đều do hoàn cảnh tạo nên, cứ như ý cụ không muốn phô trương. Có thế mới hợp Thân ở Tỵ được Thiên Lương chính hiệu có nhân là người muốn an thân, vui thú cảnh thư thái. Nhưng tạo hóa chẳng chịu nào, là cái vị trí nó buộc cụ phải lâm vào thế bất mãn, chỉ còn biết phân trần sau này bằng bút trên trang giấy hay những giây phút giữa chỗ thân bằng quyến thuộc thổ lộ một vài câu tâm tình.
Một người như Lệ Thần Tiên Sinh trên bản số này, với cái tâm chí quyết làm một học giả thì thành một học giả thực chất trăm phần trăm (Thiên Lương, Hồng Khôi Việt, Xương Khúc, Long PHượng) nhất là người Mộc mệnh ở Mùi gặp Quang quý bén nhạy vô cùng, thêm phần thanh cao hiền hậu.
Có ai ngờ rằng một ông già trên 60 tuổi chỉ biết quanh năm ngày tháng chỉ muốn hưởng sự an nhàn với hết chồng sách này sang đống sách khác, hết tìm cái tinh thần triết nhân này lại kiếm cái thời gian của triều đại nọ để phân tách thêm vào những câu nhận xét khách quan đúng mực, mà thành một vị thủ Tướng trong vòng bốn, năm tháng rồi thản nhiên đứng lên, dầu sao cũng ít nhiều hối hận.
Lúc ấy cụ 62 tuổi, đem so vào bản số thời gian 56-65 ở cung Dần, người vô chính diệu gặp hạn Sát PHá Tham đắc địa là một dịp hay, lại thêm Lưu Hà, nằm sẵn chờ đón Thanh Long. Tham Lang (Mộc đại diện cho Mệnh) chơ vơ, Hỏa Tinh đứng xa vời, vào vào bè với Phá Quân, Địa Kiếp hờm sẵn, còn lại hóa Kỵ tha hồ múa gậy vườn hoang làm cỗ cho người (riêng phần cụ). Biến chuyển của thời cuộc khiến chính quyền đến tay cụ là người thành thực không có thủ đoạn lừa bịo làm sao chống đỡ lại thế cờ lúc đó.
Thái Tuế, Hóa Quyền ràng ràng ở Mệnh, thời cuộc sao không đưa đến trước đó 10 năm để cụ cầm quyền một phen cho biết.Giai đọan này đến cao xanh cũng phải khoanh tay trước cái hưng vượng của thế nhân (46-55).
Phải chăng đất nước là cái thế chủ động, đang lúc quằn quại dưới gót dầy của thực dân thì con dân như cụ dầu thời vận đẹp cũng là đẹp cho mình mà thôi không làm được trò trống gì cho tổ quốc, có chăng về phầnt inh thần, cũng như đại vận 56-65 tiểu vận năm Ất Dậu thật là rực rỡ cũng chỉ là giấc mơ hoa còn làm cho mình phải phiêu lưu nguy hiểm nữa là khác.
Những người như cụ TRần Trọng Kim, ông Nguyễn Tường Tam… Thái Tuế đóng in ngay trước ngực, dầu là vô chính diệu, luôn luôn là một nhân sinh phải có gì với núi sông, ví là ở cấp bực hạ đẳng trong xã hội tùy theo công việc lớn nhỏ quan hệ, ít ra cũng không kém tư cách hay hư hèn.
Hồi tưởng lại ngày còn cắp sách đến trường cùng các bạn bè vui đùa học tập có lần Lệ Thần Tiên sinh đến thanh tra trường tôi với mộ phong nghi nghiêm chánh ôn hậu. Ngày nay phác học cụ bằng vài lời thô sơ, mong rằng huơng hồn tiên sinh cảm thông cho đệ tử không giám nào chấm số cho thầy mà không ngoài chỗ dụng ý hoài niệm một vị nghiêm sư khả kính, dầu trúng đó là sự thật, nếu sai đó là trò bất tài, xin thầy thứ lỗi.

Quý Mùi ngày 18 tháng 5 giờ hợi
1943 ngày 20 tháng 06 giờ hợi

phanthaianh
20-05-2007, 05:06 AM
Nguyễn Tường Tam
Văn hào hay chính khách

Mùa thu năm 1932, ông Nguyễn Tường Tam đứng ra tục – bản tờ Phong –Hóa. Ông tạo ra 3 nhân vật Lý – Toét, Xã- Xệ và Bang – Bạnh là những nhân vật điển hình của xã hội thời đại, để châm biếm với ý định để những người đại biểu cho những nhân vật đó, tự sữa chữa lấy mình.
Tờ báo tiếp tục được chừng bốn năm rồi bị đóng cửa, nhưng tiếng tăm ông nhất Linh cũng đã đủ lắm rồi, khắp nước chỗ nào cũng nói đến Lý-Toét.
Ông tuổi Bính Ngọ, sanh ngày 25 tháng 7 giờ Dần. Mệnh ông ở cung Ngọ vô chính diệu đắc Nhật Nguyệt chiếu Hư – Không, thông minh có thông minh, nhiều khi như mụ, nhưng tiếng tăm có thừa.
Ông đắc cách một nhà (Văn khúc + Mộc Dục ở Ngọ miếu địa) một nhà văn có nghệ thuật hay đả phá như cho mình có nhiệm vụ phải làm (Thái Tuế + Kình dương).
Vì mệnh ông ở Ngọ, ông không thể không nặng lòng với đất nước, bất cứ hoàn cảnh nào. Ông đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, thành ra ông lao mình vào chính trị. Ông làm báo, làm sách, cũng một mục đích là tạo sửa cho cái quốc túy, quốc hồn, một ngày một tiến bộ đẹp đẽ như người.
Nhìn vào cung Thân thấy cũng như mệnh, một người đường đường chính chính yêu nước. Một người hoàn toàn thấy phải phụng sự cái chính nghĩa việc nước việc dân, ông tính toán suy tư ghê ghớm lắm.
Tiếc rằng đời ông cả Mệnh lẫn thân luôn luôn trong hòan cảnh ở thế yếu chống lại kẻ cường quyền đủ phương thế đè bẹp mình, mặc dầu kẻ đối nghịch không phải là mạnh lắm.
Ông không phải là không có thời, Quãng thời gian ở cung Quan tức là từ 44-53 tuổi, có thể nói là thời gian ông phụng sự quốc gia dân tộc, có chăng chỉ là văn học.
Từ 1926 – 1933, những tác phẩm : Gánh hàng hoa, Đời Mưa gió, Đoạn Tuyệt là những tác phẩm tự giới thiệu với đồng bào, có tôi đây Nguyễn Tường Tam xin ra mắt đồng bào ( Phúc Đức).
Từ 1950 – 1969, những tác phẩm : Viết và Đọc tiểu thuyết, Giòng sông Thanh Thủy, ông đã thành công trong giai đọan ở cung Quan.
Giòng sông Thanh Thủy là bộ sách có lẽ ông cảm thấy đời sống chính trị nó tàn ác quá, dầu là người cùng nước với nhau mà không đồng chánh kiến.
Ông chán nản, sống chìm đắm trong những khu rừng lan Đà Lạt cùng với gió sớm mây chiều, suối reo thác đổ. Tưởng nếu ông cứ tiếp tục đời văn nghệ với đời sống thần tiên đó như Trương Lương, chắc là còn lắm điều hay.
Nhưng người này không thể sống một cuộc đời phó mặc sự tồn vong quốc gia cho người khác được. Những người đã viết ra những giòng văn tha thiết đến đời sống quê hương, hẳn là có cảm tình phong phú, quan tâm đến vận nước mạng dân. Nên một khi đã nghe, đã thấy cái trái tai gai mắt là xông ngay vào can thiệp, coi đó như phận sự phải làm, bất chấp sự nguy nan. Đó là người Mệnh đóng đúng cục.
Phải chăng thời của ông là thời của người được hưởng khô khan như kẻ ẩn dật (trường hợp Bảo Đại được truất phế), chứ không phải là của người lên xe xuống ngựa, tiền hô hậu hét.
Đã tưởng ông lâm nguy ngay ở vận 34 – 43 (Sát Phá Tham + Không Kiếp, tuổi Bính ngộ Hóa kỵ) mệnh thủy còn trường, đáo nhập Kim cung, cao sanh còn thấy ông chưa xong sứ mạng của văn hào, cho ông sống thêm 20 năm nữa để cho tròn phận sự của một công dân có lòng nhiệt thành để tô điểm cho sơn hà, nêu cao sĩ khí bất khuất của truyền thống những nhà văn chân chính.
Có phải ông Nhất Linh, ông đã thành danh văn hào hơn là thành công trên trường chính trị.

Bính Ngọ ngày 25 tháng 7 giờ Dần.
1966 ngày 9 tháng 9 giờ Dần

VanXuong
27-05-2007, 10:56 AM
Cảm ơn bài viết của phanthaianh, cho VX hỏi thêm các lá số của Trạng Quỳnh và vua Trần Nhân Tông, phanthaianh có không ạ? ^^

manutd
07-06-2007, 01:09 AM
Phan Thái Anh ơi, hay quá à.